Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình chăn nuôi lợn của nước ta và thành phố Hà Nội 1. Tình hình chăn nuôi lợn của cả nước 1. Tổng số đầu lợn - Theo số liệu thống kê tại thời điểm 1/4/2016, cả nước có khoảng 28,3 triệu con, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2015, đến thời điểm 1/10/2016 cả nước có khoảng 29,1 triệu con (tăng 0,8 triêu con).
Các vùng có số đầu lợn nhiều là vùng Đồng bằng Sông Hồng có khoảng 7,4 triệu con, chiếm 25,4% tổng đàn lợn trong cả nước; Miền núi và trung du có khoảng 7,2 triệu con, chiếm 24,7%; Bắc trung bộ và duyên hải miền trung có khoảng 5,4 triệu con, chiếm 18,5%; Đông Nam Bộ 3,4 triệu con, chiếm 11,6%; Đồng Bằng sông Cửu Long 3,8 triệu con, chiếm 13,1%; Tây Nguyên 1,9 triệu con chiếm 6,5%. Số đầu lợn nái - Tại thời điểm 01/10/2016 tổng đàn lợn nái có khoảng 4,24 triệu con (chiếm 14,6% tổng đàn), tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2015. - Tình hình chăn nuôi lợn nái ở một số tỉnh được phân bố như sau: Đồng Nai có khoảng 219 ngàn con, chiếm 5,16%; Bắc Giang có khoảng 202 ngàn con, chiếm 4,76%; Thái Bình có khoảng 195 ngàn con, chiếm 4,59%; Nghệ An trên 185 ngàn con, chiếm 4,36%;. Hà Nội có khoảng 177 ngàn con, chiếm 4,174% tổng số lợn nái trong cả nước; Bình Định khoảng 156 ngàn con, chiếm 3,68%; Nam Định 138 ngàn con, chiếm 3,25%; Phú Thọ 107 ngàn con, chiếm 2,52%; Thái Nguyên 104 ngàn con, chiếm 2,38 %; Đắk Lắk có khoảng 102 ngàn con, chiếm 2,41%.
Sản lượng thịt lợn sống xuất chuồng Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗi tháng cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng 300 - 310 ngàn tấn thịt lợn sống. Tổng sản lượng thịt lợn sống xuất chuồng năm 2016 khoảng 3,7 triệu tấn tăng 5,1 5 so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, các vùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng lớn nhất lần lượt là: Đồng Bằng Sông Hồng khoảng 31,1%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung chiếm 18,27%; Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 15,8%; Miền Núi và trung du khoảng 15,5%; Đông Nam Bộ khoảng 13,7%. Tình hình chăn nuôi lợn ở Thành phố Hà Nội Hà Nội, là một trong những tỉnh, thành phố có nghề chăn nuôi phát triển tương đối lớn, trong đó chăn nuôi lợn chiếm tỉ trọng cao.
Theo thống kê tháng 10/2016, Hà Nội có khoảng 1,59 triệu con, trong đó lợn nái có khoảng 177 ngàn con, lợn thịt có khoảng 1,41 triệu con. Hiện nay, chăn nuôi lợn ở thành phố Hà Nội tồn tại duới ba hình thức: chăn nuôi quy mô vừa tập trung kiểu trang trại nông hộ. Chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, phân tán Đây là phương thức chăn nuôi đang tồn tại ở hầu khắp các huyện ngoại thành trong toàn thành phố; chăn nuôi lợn nhỏ lẻ chiếm dưới 10% về đầu con, sản lượng chỉ chiếm không quá 10% tổng sản lượng ngành chăn nuôi sản xuất. Quy mô chăn nuôi dao động từ 1 - 50 con; chuồng nuôi được xây dựng gần nhà với diện tích hẹp.
Thức ăn tận dụng các sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ (bã đậu, bã rượu, nước gạo …); con giống chủ yếu là lợn lai có tỷ lệ máu nội cao (F1 = Nội x Ngoại), năng suất chăn nuôi thấp. Chăn nuôi quy mô vừa kiểu trại nông hộ phân tán Phương thức chăn nuôi này phát triển mạnh trong những năm gần đây, quy mô chăn nuôi phổ biến là từ 10 - 30 lợn nái hoặc 10 - 50 lợn thịt có mặt thường xuyên. Chuồng trại đã được xây dựng kiên cố hơn, diện tích chuồng rộng hơn, được xây dựng gần nhà ở trong khu dân cư hoặc xây dựng riêng biệt (đối với các khu đa canh chuyển đổi). Ngoài các phụ phẩm nông nghiệp thì có khoảng 40% thức ăn công nghiệp được sử dụng cho lợn.
Chất lượng con giống khá hơn chủ yếu là con lai có từ 50 - 75% máu ngoại trở lên. Công tác thú y và chuồng trại chăn nuôi đã được coi trọng hơn chăn nuôi truyền thống, năng suất chăn nuôi đã có tiến bộ. Chăn nuôi tập trung kiểu trang trại Phương thức chăn nuôi này chiếm trên 80% về đầu con lợn và sản lượng thịt lợn. Quy mô từ 50 - 600 lợn nái hoặc 100 - 1500 lợn thịt có mặt thường xuyên.
Hoàn toàn sử dụng thức ăn công nghiệp, con giống chủ yếu là lợn ngoại 2 máu hoặc 3 máu. Các công nghệ chuồng trại như: chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và hệ thống sưởi ấm, hệ thống máng ăn, máng uống tự động,… đã được áp dụng, năng suất chăn nuôi cao, sản lượng đồng đều, chất lượng tốt. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Mỗi giống vật nuôi có có bản chất sinh học được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó. Kiểu hình là biểu hiện cụ thể của kiểu gen dưới tác dụng của các nhân tố môi trường khác nhau.
Để công tác chọn giống vật nuôi đạt kết quả tốt, thì những kiến thức cơ bản về di truyền học cần phải nắm vững đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng. Tính trạng số lượng Tính trạng là đặc trưng của một cá thể mà ta có thể xác định, được thể hiện qua các đặc trưng về hình thái, cấu tạo, sinh lý riêng của một cơ thể nào đó mà có thể làm dấu hiệu để phân biệt với cơ thể khác. Hai loại tính trạng được quan tâm trong phân tích di truyền ứng dụng trong chọn giống là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng. Tính trạng số lượng (cân đong đo đếm được) trên cơ thể sinh vật được biểu hiện do tác động của các gen và tác động của môi trường, mà sự khác biệt giữa những cá thể được xem xét nhiều hơn trong nghiên cứu di truyền chọn giống.
Nền tảng của di truyền số lượng, tuỳ thuộc vào gen điều khiển và tuân theo các quy luật chung của sự di truyền các tính trạng và có cùng những đặc tính chung giống như các gen trong di truyền tính trạng chất lượng. Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng Các tính trạng về khả năng sinh trưởng của vật nuôi nói chung và của lợn nói riêng đều là những tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh, giá trị kiểu hình (P - Phenotyphic value) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G - Genotypic value) và sai lệch môi trường (E - Enviromental deviation). Giá trị kiểu hình (P) của một tính trạng được biểu thị như sau: P = G + E Trong đó: P là giá trị kiểu hình (Phenotyp value) G là giá trị kiểu gen (Genotyp value) E là sai lệch môi trường (Enviromental deviatino) 1. Giá trị kiểu gen (G) Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định.
Tuỳ theo tác động khác nhau của gen các giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị cộng gộp (A - Additive value) hoặc giá trị giống (Breeding c 6 value), sai lệch trội (D - Dominance deviation) và sai lệch tương tác gen hoặc sai lệch lấn át gen (I - Interaction deviaton hoặc Epistatic deviation). G=A+D+I Giá trị cộng gộp (A): để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ sang đời con phải có một giá trị đo lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan với kiểu gen. Mỗi một gen trong tập hợp các gen quy định một tính trạng số lượng nào đó đều có một hiệu ứng nhất định đối với tính trạng số lượng đó. Tổng các hiệu ứng mà các gen nó mang được gọi là giá trị cộng gộp hay còn gọi là giá trị giống của cá thể.
Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể truyền được cho thế hệ sau. Do đó, nó là nguyên nhân chính gây ra sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, nghĩa là nó là nhân tố chủ yếu sinh ra đặc tính di truyền của quần thể và sự đáp ứng của quần thể với sự chọn lọc. Tác động của các gen được gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen đồng hợp, bố mẹ luôn truyền một nửa giá trị cộng gộp của mỗi tính trạng của chúng cho đời sau. Tiềm năng di truyền do tác động cộng gộp của gen bố và mẹ tạo nên gọi là giá trị di truyền của con vật hay giá trị giống.
Sai lệch trội (D): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các cặp alen ở cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử. Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể, quan hệ trội của bố mẹ không truyền được sang con cái. Sai lệch át gen (I): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các gen thuộc các locus khác nhau. Sai lệch át gen không có khả năng di truyền cho thế hệ sau.
Giá trị kiểu hình của tính trạng số lượng Khi lai tạo giữa các cá thể thuộc hai quần thể với nhau thì giá trị kiểu hình của một tính trạng số lượng ở các tổ hợp lai bao gồm hai thành phần chính: - Giá trị trung bình của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất X P1 và trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ hai X P2 ( X P1P2). X P1 + X P2 X P1P2 = 2 Do đó: X F1 = X P1P2 + H c 7 Tùy theo nguồn gốc đóng góp của các thành phần trên, người ta chia chúng thành: - Di truyền cộng gộp: bao gồm di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad), di truyền cộng gộp của bố (Ab) và di truyền cộng gộp của mẹ (Am). - Ưu thế lai: bao gồm ưu thế lai trực tiếp (Dd), ưu thế lai của bố lai (Db) và ưu thế lai của mẹ lai (Dm). Sai lệch môi trường (E) Sai lệch môi trường được thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường riêng (Es).
Sai lệch môi trường chung (Eg): là sai lệch do loại môi trường tác động lên toàn bộ con vật trong suốt đời của nó. Sai lệch môi trường riêng (Es): là sai lệch do loại môi trường chỉ tác động lên một số con vật trong một giai đoạn nào đó trong đời con vật.