CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc tính sinh trưởng và phát triển 1.1 Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình diễn ra đồng thời, liên tục trong cơ thể động vật cũng như cơ thể gia cầm. Sinh trưởng là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể do kết quả của sự phân chia các tế bào sinh dưỡng. Trần Đình Miêu và Nguyễn Văn Thiện (1995) đã định nghĩa: “ Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”. Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục.
Về mặt sinh học, sinh trưởng của gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu nhận từ bên ngoài chuyển hóa thành protein đăc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước. Trong công tác chọn giống, bên cạnh việc chọn lọc và nhân giống thuần chủng qua nhiều đời để cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi, thì thông qua con đường lai tạo sẽ đem lại hiệu quả trong thời gian ngắn hơn. Ngày nay, việc lai tạo ra các loại sản phẩm phần lớn đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo đã ảnh hưởng rất tốt đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm (Trần Đình Miêu và cs, 1994). Sự lai tạo được sử dụng rất nhiều trong chăn nuôi gia súc nói chung và 13 chăn nuôi gia cầm nói riêng, nhằm khai thác thế mạnh của con lai nên nó được áp dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bán công nghiệp ở nước ta đang phát triển.
Lai giữa các giống khác nhau đã giúp cho việc quyết định chiến lược thích hợp về công tác giống (Flock, 1996). Khả năng sinh sản ở gia cầm: khả năng sinh sản ở đàn bố mẹ có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá năng suất thịt của giống hoặc dòng. Các nghiên cứu cho rằng sản xuất thịt của dòng hoặc giống không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng, khối lượng gà lúc giết thịt mà còn phụ thuộc vào số gà con được sinh ra trên một gà mái của đàn bố mẹ. Giống hặc dòng nào, đàn bố mẹ có sản lượng trứng cao, số lượng gà con một ngày tuổi trên một gà mái nhiều thì tổng sản lượng thịt sản xuất ra sẽ cao.
Trong thực tế ít có dòng nào vừa cho sản lượng trứng cao, vừa có khả năng sinh trưởng nhanh. Vì vậy, trong một giống cần có nhiều dòng, mỗi dòng cần có một tính trạng trội như: tốc độ sinh trưởng nhanh, sản lượng trứng cao, sức sống tốt từ đó lai chéo giữa các dòng tạo con lai có nhiều đặc điểm di truyền tốt. Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi thành dục, giống, dòng, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tỷ lệ ấp nở. Khả năng cho thịt của gia cầm: Được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt.
Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ cơ, kích thước và khối lượng của khung xương.2 Đặc điểm sinh trưởng Về mặt giải phẫu học thì gà là một loại gia cầm (có lông vũ) với nhược điểm bộ máy tiêu hóa không có răng, hệ thống bài tiết không có đường tiết niệu riêng, ở dưới da không có tuyến mồ hôi. 14 Về hoạt động sinh lý, gà chịu nóng kém (do sự thoát nước để điều chỉnh nhiệt độ của cơ thể kém), có thân nhiệt cao hơn các loại động vật có vú 0,5-1C. Tuy không có răng, nhưng gà có một dạ dày cơ (mề) rất khỏe đủ để nghiền bóp mọi loại thức ăn thông thường, ngoài ra hệ thống men tiêu hóa lại rất phát triển nên vận tốc tiêu hóa ở gà rất lớn. Điều này được thể hiện ở việc gà ăn rất khỏe.
Từ những đặc điểm trên, gà có một tiềm năng sinh vật rất lớn (đẻ nhiều, lớn nhanh). Do vậy, gà có những thế mạnh và điểm yếu nhất định. Điểm mạnh là hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm ở gà rất lớn: một gà mái có thể sản sinh ra một lượng sản phẩm (trứng) nặng gấp 8 lần cơ thể của nó trong vòng 12 tháng (trong khi muốn đạt được điều này lợn nái cần 40 năm, bò cái cần 80 năm), một gà thịt đạt khối lượng gấp 50 lần khối lượng sơ sinh chỉ sau 8 tuần lễ (con số này ở lợn là 20 lần trong 26 tuần, ở bò là 6 - 7 lần trong 52 tuần). Như vậy, tiềm năng về sức sản xuất ở gà là rất lớn.
Điểm yếu: một là không có tuyến mồ hôi, lớp mỡ dày, thân nhiệt cao nên gà chỉ thích hợp với những nơi, những lúc nhiệt độ thấp, gà chịu rét tốt nhưng chịu nóng rất kém. Hai là có cường độ trao đổi vật chất rất cao nên gà rất mẫn cảm với các bệnh về dinh dưỡng và thời tiết, khí hậu.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gia cầm Tiêu hóa là một quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp chuyển biến thành những hợp chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng được. Theo Lê Hồng Mận và cs (2007) sự trao đổi chất và năng lượng ở gia cầm 15 cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất. Khối lượng rất lớn các chất tiêu hóa đi qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cường độ của các quá trình tiêu hóa ở gà, vịt, ở gà còn non tốc độ là 30 – 39 cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40 cm/giờ, và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm/giờ, chất tiêu hóa được giữ lại ở ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ.
Cơ quan tiêu hóa gia cầm gồm: thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, lá lách, túi mật, gan, ống mật. Tuyến tủy, ruột hồi manh tràng, ruột già, ổ nhớp. Tiêu hóa ở miệng Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 – 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản – thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác kém hơn.
Tuyến nước bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy. Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nước bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa. Gà mái có thể tiết 7 – 25ml nước bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 2ml) (Nguyễn Duy Hoan và cs 1998).
Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều. Tiêu hóa ở diều Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 – 200g thức ăn. Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới của thực quản và dạ dày không túi diều. Ở diều thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật.
Thức ăn cứng lại trong diều lâu hơn. 16 Khi thức ăn và nước có tỷ lệ 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 – 6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 – 5,8. Sau khi ăn từ 1- 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy với khoảng cách 15 – 20 phút, sau khi ăn từ 5 -12 giờ là 10- 12 phút.
Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza. Tiêu hóa ở dạ dày Dạ dày chia ra: Dạ dày tuyến và dạ dày cơ Dạ dày tuyến Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lượng khoảng từ 3,5 - 6 g. Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết. Dịch có chứa chlohydric, pepsin và musin.
Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau khi ăn càng được tăng cường. Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút). Dạ dày cơ Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ.
Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và các vi khuẩn. Acid Cholohydric tác động làm cho các peptin 17 và một phần thành các acid amin. Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid. Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày.
Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric. Tiêu hóa ở ruột: Ruột non của gia cầm có đầu trên giáp với dạ dày cơ, đầu dưới giáp với manh tràng. Ruột già của gia cầm không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở ruột non.
Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn nheo. Các tuyến tiêu hóa phân bố dọc niêm mạc ruột. Dịch tuyến tụy – pancreatic – lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 – 7,5 ở gia cầm khác). Dịch này có men tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza.
Trong các chất khô của dịch này có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2. NaCl, NaHCO3… Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 – 0,8ml/giờ, sau khi 5 – 10 phút lượng tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần. Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến quá trình tiết dịch men của tụy. Thức ăn giàu protein nâng hoạt tính proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic.