ĐẶT VẤN ĐỀ Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra khắp các Châu lục với những mức độ khác nhau và trở thành thách thức lớn đối với từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương. Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn. Với trình độ dân trí, canh tác còn hạn chế nên năng suốt lao động chưa cao, thu nhâp của nông dân còn thấp, tình trạng đói nghèo diễn ra rộng khắp các khu vực. Vấn đề đói nghèo đã được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm.
Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề đói nghèo để thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển giữa các vùng, địa phương và các nhóm dân tộc, dân cư. Nói đến Lai Châu, người ta nghĩ đến xa xôi, cách trở và những khó khăn đặc thù. Đó là đường biên giới dài với 20 dân tộc, 2/3 xã thuộc diện đặc Khóa luận tốt nghiệp môi trường biệt khó khăn, địa hình chia cắt, hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, tỷ lệ nghèo rất cao,… Đây còn là địa bàn có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh. Nhận thức đúng đắn điều đó, ngay từ những ngày đầu chia tách, thành lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Lai Châu đã xác định phải đưa Lai Châu phát triển trên mọi lĩnh vực (Thu Hằng, 2014).
Công tác xóa đói, giảm nghèo được tỉnh quan tâm chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả. Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (nay là 62 huyện nghèo), Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lai Châu đã tập trung chỉ đạo, phân công lãnh đạo tỉnh, các sở, ban ngành tỉnh phụ trách, giúp đỡ các xã nghèo và tập trung mọi nguồn lực xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 50,95% năm 2006 xuống còn 21,94% năm 2010, hàng năm tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh giảm 5%; đến nay cơ bản tỉnh đã hoàn thành 6837/6837 nhà. Với chủ trương xóa nhà tạm theo phương châm "3 cứng": Mái cứng (mái nhà lợp ngói hoặc 1 tấm lợp Prôximăng); tường cứng (tường xây, ốp ván gỗ, …); nền cứng (nền nhà lát gạch hoặc láng xi măng) công tác hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ khoanh nuôi, bảo vệ rừng, công tác khuyến nông - khuyến lâm – khuyến ngư trên địa bàn được triển khai và đạt hiệu quả, tạo niềm tin vững chắc của người dân vùng sâu, vùng xa đối với Đảng và Nhà nước (Nghiêm Đẳng, 2011).
Toàn tỉnh đã đạt được một số kết quả đáng chú ý nhưng đối với xã Xã Nậm Hăn vì là một trong 11 xã nghèo nhất của huyện Sìn Hồ, thuộc vùng tái định cư tỉnh Sơn La. Địa hình hiểm trở, đường xá xa xôi cách trung tâm huyện 120km, trình độ dân trí thấp, kinh nghiệm sản xuất cũng như học vấn còn hạn chế nên hầu hết các hộ trong xã đều thuộc hộ nghèo. Từ khi ban hành Nghị quyết 30a, xã Nậm Hăn đã triển khai và thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 30a. Người dân có ý thức tham gia thực thi, đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực góp phần cải thiện đời sống vệ mặt vật Khóa được, xãluận Nậm Hăn tốt vẫn cònnghiệp môi trường chất cũng như tinh thần cho đồng bào.
Tuy nhiên ngoài những kết quả đã đạt nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện Nghị quyết 30a. Vì vậy để hiểu rõ hơn về những thay đổi từ khi có Nghị quyết 30a tại xã Nậm Hăn và những tồn tại trong quá trình thực hiện Nghị quyết tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, giai đoạn 2009 - 2014”.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/NQ-CP nhằm đánh giá kết quả thực hiện chính sách và phân tích các yếu tố ảnh hưởng để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện của chương trình.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ giảm nghèo. 2 - Đánh giá kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị quyết 30a tại xã Nậm Hăn và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của Chương trình. - Đề xuất các giải pháp giải nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình Nghị quyết 30a tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.3 Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Kết quả thực hiện chương trình Nghị quyết 30a và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện Chương trình Nghị quyết 30a.
- Đối tượng điều tra, khảo sát: Là các hộ nghèo, cán hộ xã, huyện.4 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi nội dung Đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất, chính sách phát Khóa luận tốt nghiệp môiđánh giátrường triển rừng, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng thuộc chương trình Nghị quyết 30a đang triển khai tại xã Nậm Hăn trong đó không các chương trình lồng ghép khác như chương trình 135, chương trình 167, chương trình 105, chương trình 146. Thực hiện chọn mẫu 03 bản (3/16 bản): Pá Pha, Nậm Hăn, Co Sản để làm điều tra 55 hộ nông dân. Phỏng vấn trực tiếp 5 cán bộ (Trong đó có 02 cán bộ thực hiện chính sách và 03 trưởng bản).2 Phạm vi không gian Địa điểm nghiên cứu: xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Thực hiện chọn mẫu 03 bản (3/16 bản): Pá Pha, Nậm Hăn, Co Sản.3 Phạm vi thời gian Thời gian nghiên cứu đối với số liệu thứ cấp là 2009 – 2014.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO 2.1 Cơ sở lý luận kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo 2.1 Khái niệm nghèo đói a. Theo quan niệm quốc tế Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về nghèo đói, kể cả các tổ chức quốc tế. Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok – Thái Lan tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất và đưa ra như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và Khóa thỏa mãnluận những nhutốt nghiệp cầu cơ bản của con người môi đã được xãtrường hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” (Lê Xuân Tư, 2014). Để hiểu rõ hơn về khái niệm nghèo đói, chúng ta có thể phân thành hai khái niệm nghèo và đói: + Đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng hoặc được hưởng rất ít ỏi những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các dân tộc ở các địa phương.
+ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương (Nguyễn Thị Mai Phương, 2014). 4 + Theo liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình an toàn” (Hồ Xuân Khanh, 2014). Mặc dù có nhiều khái niệm và nhiều cách định nghĩa khác nhau về nghèo đói nhưng tựu chung lại các quan niệm đó đều phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo, đó là + Không được hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiều dành cho con người + Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. KhóaTóm luận lại nghèotốt nghiệp môibiến độngtrường + Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. đói là một khái niệm động, theo thời gian và không gian.
Vì vậy, không có một khái niệm chung cho tất cả các quốc gia, lãnh thổ hoặc chung cho cả khu vực, thành thị và nông thôn. Theo quan niệm của Việt Nam Nghèo đói có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau. Nghèo đói được tách ra thành hai khái niệm riêng như sau: Khái niệm đói - Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1 đến 2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.
- Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì 5 cuộc sống. Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo (Hoàng Tuấn Anh, 2009). Khái niệm đói cũng có 2 dạng: Đói kinh niên và đói cấp tính + Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét + Đói cấp tính: là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, tủi ro khác tại thời điểm đang xét. + Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà của rách nát (Thái Văn Hoạt, 2007)….
Khái niệm nghèo Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một Khóa luận tốtđồngnghiệp môi diện. trường phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng xét trên mọi phương Nghèo cũng có hai dạng đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối + Nghèo tuyệt đối: là tình trạng bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống.