MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất, sinh vật sống trên bề mặt trái đất thậm chí cả sinh vật sống trong lòng đất. Đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian. Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Từ năm 1945 khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến nay, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề đất đai và đã ban hành, đổi mới Luật đất đai: Luật đất đai 1988, Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 năm 1998, năm 2001, năm 2003; Đặc biệt, Luật đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực ngày 01/7/2014 đã từng bước đưa pháp luật đất đai phù hợp với thực tế quản lý và sử dụng đất. Các văn bản, Thông tư, Nghị định…đi kèm đã giúp rất nhiều cho việc nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất của quốc gia cũng như phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới. Trong quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hoá làm cho mật độ dân cư ngày càng tăng. Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị và quá trình công nghiệp hoá làm cho nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã “bức xúc” nay càng trở nên “nhức nhối” hơn.
Đây là vấn đề nan giải không chỉ vmà còn với h 2 các nước đang phát triển và phát triển trên thế giới. Để giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chương trình, kế hoạch, chiến lược riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình để sử dụng đất đai được hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm. Đặc biệt là đối với nước ta - một đất nước mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước. Công tác quản lý Nhà nước về đất đai với 15 nội dung được ghi nhận tại điều 22 của Luật đất đai năm 2013, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước nắm chắc, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và khai thác tiềm năng từ đất mang lại.
Phường Tân Thành là một Phường nằm ở cửa ngõ phía đông nam của Thành phố Thái Nguyên một Thành phố đang phát triển Là phường được quy hoạch đô thị hoá nên nhiều khu dân cư mới được hình thành phường được chia thành 16 tổ dân phố. Có những công trình khi hoàn thành sẽ mang lại cảnh quan chung về phát triển đô thị hiện đại trên địa bàn phường. Vì vậy việc đưa ra phương hướng quản lý và sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch là vấn đề hết sức cần thiết. để giải quyết vấn đề này thì việc đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất phi nông nghiệp nhằm đưa ra phương hướng sử dụng thích hợp là việc rất quan trọng.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tình hình sử dụng đất trên, được sừ đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Đại Học Thái Nguyên. Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: ThS. Nguyễn Quý Ly, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp tại phường Tân Thành thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 – 2017”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát - Đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn phường Tân Thành thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên. - Những đề xuất việc sử dụng đất phi nông nghiệp đạt hiệu quả của phường Tân Thành thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên 1. Mục tiêu cụ thể - Điều tra, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của phường Tân Thành thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên. - Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng đất.
- Đánh giá kết quả thực hiên quy hoạch sử dụng đất. - Đề xuất các biện pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đạt hiệu quả hơn 1. Ý nghĩa của đề tài - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và trang bị những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập tài liệu và sử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất phi nông nghiệp đưa ra phương hướng sử dụng đất đạt hiệu quả cao. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về nội dung đất phi nông nghiệp 2. Khái niệm về đất Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt trái đất, có khả năng hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng sự sống động vật từ các vi sinh vật tới các loại động vật nhỏ.Dokuchaev, nhà khoa học người nga tiên phong trong lĩnh vực khoa học đất cho rằng: Đất như là một thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó. Đất được coi là khác biệt với đá.
Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yêu tố tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi. Theo ông, đất có thể được gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ thuộc vào dạng; chúng bị thay đổi một cách tự nhiên bởi các tác động phổ biến của nước, không khí và một loạt các dạng hình của các sinh vật sống chết. Nguồn: Krasil’nikov,N.(1958) vi sinh vật đất và các thực vật bậc cao hơn. Đất là vô cũng quan trọng cho mọi loại hình sử sống trên trái đất vì nó hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật, trong lượt mình thì các loại thực vật lại cung cấp thức ăn và ôxy cũng như hấp thụ Cacbon điôxít.
Thành phần Các loại đất dao động trong một khoảng rộng về thành phần và cấu trúc theo từng khu vực. Các loại đất được hình thành thông quá quá trình phong h 5 hóa của các loại đá và sự phân hủy của các chất hữu cơ. Phong hóa là tác động của gió, mưa, băng, ánh nắng và các tiến trình sinh học trên các loại đá theo thời gian, các tác động này làm đá vỡ vụn ra thành các hạt nhỏ. Các thành phần khoáng chất và các chất hữu cơ xác định cấu trúc và các thuộc tính khác của các loại đất.
Đất có thể chia ra thành hai lớp tổng quát hay tầng: Tầng đất bề mặt, là lớp trên cùng nhất, ở đó phần lớn các loại rễ cây, vi sinh vật và các loại hình sự sống động vật khác cư trú và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc và chặt hơn cũng như ít các chất hữu cơ hơn. Nước, không khí cũng là thành phần của phần lớn các loại đất. Không khí, nằm trong các khoảng không gian giữa các hạt đất, và nước, nằm trong các khoảng không gian cũng như bề mặt các hạt đất, chiếm khoảng một nửa thể tích của đất. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và các loại hình sự sống khác trong thiết diện đứng của đất trong một hệ sinh thái cụ thể.
Căn cứ vào tỉ lệ các loại hạt (thành phần đá và khoáng chất) trong đất người ta chia đất ra làm 3 loại chính: Đất cát, đất thịt và đất sét. Chúng có các tỉ lệ các hạt cát, limon và sét như sau: - Đất cát: 85% cát, 10% limon và 5% sét. - Đất thịt: 45% cát, 40% limon và 15% sét. - Đất sét: 25% cát, 30% limon và 45% sét.
- Giữa các loại đất này còn có các loại đất trung gian.Ví dụ: Đất cát pha, đất thịt nhẹ. Các loại đất nguyên thủy bị chôn vùi dưới các hiệu ứng của các sinh vật được gọi là đất cổ. Các loại đất tiến hóa tự nhiên theo thời gian bởi các hoạt động của thực vật, động vật và phong hóa. Đất cũng chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động sống của con người.
Con người có thể cải tạo đất để làm cho nó h 6 thích hợp hơn đối với sự sinh trưởng của thực vật thông qua việc bổ sung các chất hữu cơ và phân bón tự nhiên hay tổng hợp, cũng như cải tạo tưới tiêu hay khả năng giữ nước của đất. Tuy nhiên, các hoạt động của con người cũng có thể làm thoái hóa đất bởi sự làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng, ô nhiễm cũng như làm tăng sự xói mòn đất. Độ phì nhiêu Độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp đủ nước, oxi và chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng bảo đảm năng suất cao, đồng thời không chứa các chất có hại cho cây. Độ phì nhiêu của đất là một trong những yếu tố quyết định năng suất cây trồng.
Muốn cây trồng có năng suất cao, ngoài độ phì nhiêu của đất cần phải có thêm các điều kiện: giống tốt, chăm sóc tốt và thời tiết thuận lợi. Nhờ các hạt cát, limon, sét và chất mùn mà đất có khả năng giữ được nước và các chất dinh dưỡng. Đất chứa nhiều hạt có kích thước bé, đất càng chứa nhiều mùn, khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng càng tốt. Tiến hóa tự nhiên của đất Một ví dụ về sự tiến hóa tự nhiên của đất từ đá diễn ra trên các dòng dung nham đã nguội trong các khu vực ấm áp dưới tác động của lượng mưa nhiều và lớn.
Thực vật có thể thích nghi và sinh trưởng rất mau trong những khí hậu như vậy trên các dung nham bazan đã nguội, thậm chí ngay cả khi ở đó có rất ít các chất hữu cơ. Các loại đá xốp có nguồn gốc từ dung nham bên trong có chứa nước và các chất dinh dưỡng giúp cho cây sinh trưởng.