Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại Việt Nam, nơi khu vực nông thôn chiếm tới 65,4% dân số (khoảng 60,64 triệu người) và 68,1% lực lượng lao động toàn quốc tính đến năm 2017. Tiến trình xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khổng lồ lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng trên cả nước. Tuy nhiên, việc triển khai tại nhiều địa phương bộc lộ sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn ngân sách nhà nước, chưa khơi dậy đầy đủ tiềm năng nội tại to lớn từ phía cộng đồng dân cư.

Tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, quá trình thực hiện Đề án số 1199/ĐA-UBND giai đoạn 2017-2020 bộc lộ không ít điểm nghẽn trong công tác xã hội hóa nguồn lực. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là nhận diện thực trạng, tháo gỡ rào cản tâm lý thụ động, ỷ lại và tăng cường sự tham gia của người dân trong việc hoàn thành các tiêu chí quốc gia. Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào: hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn lực cộng đồng, đánh giá thực trạng huy động 4 nhóm nguồn lực (tiền mặt, tài sản - đất đai, ngày công lao động, ý kiến tham vấn) tại địa bàn huyện Nho Quan, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giai đoạn định hướng đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016-2018 và dữ liệu sơ cấp điều tra năm 2018 tại 3 xã đại diện: Đồng Phong, Lạng Phong và Văn Phong. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn, nâng tỷ lệ đồng thuận của người dân đạt trên 90% và thúc đẩy hoàn thành bền vững 19 tiêu chí nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) do Jody Kretzmann và John McKnight (1993) khởi xướng, kết hợp cùng khung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế của Alison M.C (2002) bao gồm: nguồn tài sản thiên nhiên (vốn tự nhiên), tài sản vật chất (vốn vật lý), con người (vốn nhân lực), tài sản xã hội (vốn xã hội) và tài sản tài chính (vốn tài chính). Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp khung phân tích sự tham gia của Cohen và Uphoff (1979) với 4 phương diện chính: ra quyết định, thực hiện, hưởng lợi và đánh giá.

Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm: "Nguồn lực cộng đồng" (toàn bộ các yếu tố vật chất và phi vật chất thuộc sở hữu hoặc do cộng đồng kiểm soát), "Xây dựng nông thôn mới" (quá trình hiện đại hóa toàn diện 19 tiêu chí kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường theo Quyết định 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) và "Quy chế dân chủ cơ sở" theo tinh thần Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 nhằm đảm bảo nguyên tắc cốt lõi: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích nhằm đảm bảo tính đại diện cho các tiểu vùng sinh thái và các mức độ hoàn thành tiêu chí nông thôn mới tại huyện Nho Quan. Tổng quy mô mẫu điều tra sơ cấp là 198 đối tượng, gồm 150 hộ gia đình nông dân và 48 cán bộ quản lý cấp xã, ban phát triển thôn tại 3 xã điểm: Đồng Phong, Lạng Phong và Văn Phong. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống báo cáo chính thức giai đoạn 2016-2018 của UBND huyện Nho Quan và Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh Ninh Bình.

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để lượng hóa quy mô, tỷ trọng các nguồn lực huy động; phương pháp thống kê so sánh được áp dụng nhằm đối chiếu sự khác biệt về mức độ tham gia giữa các nhóm hộ và các địa bàn nghiên cứu; phương pháp chuyên gia được kết hợp để thẩm định các rào cản thể chế. Tổ hợp phương pháp này giúp phân tích đa chiều giá trị đóng góp tiền của, đất đai, ngày công và phản ánh trung thực mức độ hài lòng của nhân dân trong suốt quá trình nghiên cứu thực địa từ tháng 10/2017 đến tháng 5/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả nghiên cứu thực tế tại huyện Nho Quan giai đoạn 2016-2018 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu vốn đầu tư cho chương trình nông thôn mới còn mất cân đối nghiêm trọng khi nguồn vốn ngân sách nhà nước các cấp và vốn lồng ghép chiếm tỷ trọng chi phối trên 60%, trong khi nguồn vốn huy động trực tiếp từ cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 25% đến 30% tổng nguồn lực đầu tư.

Thứ hai, tại 3 xã khảo sát (Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong), mức đóng góp tài chính bình quân của mỗi hộ gia đình dao động từ 1,5 đến 3,2 triệu đồng/năm. Đi cùng với đó là hàng chục ngày công lao động công ích phục vụ việc bê tông hóa đường làng ngõ xóm và kiên cố hóa hệ thống kênh mương nội đồng.

Thứ ba, phong trào hiến đất làm đường và xây dựng các thiết chế văn hóa thôn bản đạt kết quả rất tích cực với hàng nghìn mét vuông đất thổ cư và đất nông nghiệp được người dân tự nguyện bàn giao không nhận đền bù.

Thứ tư, sự tham gia phi vật chất của người dân còn nhiều hạn chế khi tỷ lệ hộ gia đình tham gia đóng góp ý kiến vào đồ án quy hoạch xã chỉ đạt khoảng 42%, và tỷ lệ người dân tham gia vào ban giám sát đầu tư cộng đồng chỉ dừng lại ở mức 35%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát được mô tả rõ nét qua hệ thống biểu đồ cơ cấu nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2016-2018 và bảng tổng hợp so sánh mức đóng góp bình quân giữa các xã. Sự chênh lệch về năng lực huy động nguồn lực phản ánh rõ nét sự phân hóa về kinh tế hộ và năng lực điều hành của bộ máy lãnh đạo cơ sở. Điển hình như tại xã Đồng Phong - địa bàn có hoạt động dịch vụ thương mại phát triển, mức huy động tiền mặt tự nguyện bình quân cao hơn 38% so với xã thuần nông Văn Phong.

Nguyên nhân căn bản của tình trạng này xuất phát từ tâm lý thụ động, trông chờ hỗ trợ từ cấp trên của một bộ phận cư dân, cùng việc thực thi quy chế dân chủ ở một số thôn bản còn mang tính hình thức. So sánh với các bài học kinh nghiệm thành công như phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc hay mô hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Lạng Giang (Bắc Giang) với 35.702 m2 đất hiến năm 2014 và tổng vốn huy động đạt 80,5 tỷ đồng năm 2016, huyện Nho Quan cần chuyển trọng tâm từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế tạo động lực và trao quyền tự quyết thực chất cho cộng đồng thôn xóm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối ưu hóa việc huy động mọi nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Nho Quan định hướng đến năm 2020, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đổi mới và đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng tỷ lệ người dân hiểu đúng và đầy đủ về 19 tiêu chí nông thôn mới lên trên 95% vào quý 4 năm 2019. Ban Tuyên giáo Huyện ủy phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ) đa dạng hóa hình thức truyền thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở và các buổi sinh hoạt cộng đồng, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách kích cầu tài chính và khen thưởng đột phá giai đoạn 2019-2020. UBND huyện Nho Quan cần ban hành cơ chế hỗ trợ vốn đối ứng từ 10% đến 15% cho các thôn hoàn thành sớm chỉ tiêu giao thông nông thôn và nhà văn hóa; đồng thời thực hiện công khai minh bạch 100% các khoản thu chi đóng góp để củng cố niềm tin trong nhân dân.

Thứ ba, tăng cường thực thi Quy chế dân chủ cơ sở theo Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ gia đình tham gia bàn bạc và biểu quyết trực tiếp các công trình phúc lợi lên trên 85% trước năm 2020. Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới cấp xã phải trao quyền giám sát thực tế cho Ban Giám sát đầu tư cộng đồng trong suốt quá trình thi công và nghiệm thu.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ và kinh tế hợp tác, phấn đấu nâng mức thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt trên 45 triệu đồng/người/năm vào cuối năm 2020. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì triển khai chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), tạo điều kiện cho các hộ nông dân tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi không cần tài sản thế chấp lên đến 50 triệu đồng/hộ để mở rộng sản xuất hàng hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện và xã. Hệ thống dữ liệu thực chứng từ 198 phiếu khảo sát cung cấp cơ sở tin cậy để địa phương điều chỉnh quy trình lập kế hoạch và phân bổ nguồn vốn đầu tư công hợp lý.

Thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về 5 nguồn vốn cộng đồng cùng hệ thống chỉ tiêu phân tích định lượng làm tài liệu tham khảo giá trị cho các đề tài nghiên cứu liên quan.

Thứ ba là cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên. Các đơn vị này có thể vận dụng bộ giải pháp truyền thông vận động và quy trình giám sát dân chủ nhằm nâng tỷ lệ hội viên tích cực tham gia các phong trào làng xã lên trên 90%.

Thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia tư vấn dự án phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp bức tranh thực tế về hành vi kinh tế và mức độ sẵn sàng đóng góp của cư dân vùng trung du Bắc Bộ, hỗ trợ thiết kế các dự án viện trợ phát triển cộng đồng hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới bao gồm những thành tố nào?

Nguồn lực cộng đồng bao gồm 4 thành tố cốt lõi: đóng góp tài chính (tiền mặt), đóng góp vật chất (hiến đất đai, vật tư, máy móc), ngày công lao động công ích và nguồn lực phi vật chất (sự tham gia bàn bạc, ý kiến quy hoạch, kiểm tra giám sát). Sự kết hợp đồng bộ 4 thành tố này quyết định tính bền vững của các công trình hạ tầng và đời sống văn hóa địa phương.

Mức độ đóng góp của người dân huyện Nho Quan giai đoạn 2016-2018 đạt mức bao nhiêu?

Trong giai đoạn 2016-2018, mức đóng góp tài chính bình quân tại 3 xã nghiên cứu đạt từ 1,5 đến 3,2 triệu đồng/hộ/năm. Ngoài tiền mặt, các hộ gia đình còn đóng góp hàng vạn ngày công lao động và tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất phục vụ việc mở rộng đường giao thông thôn xóm và các công trình phúc lợi chung.

Đâu là rào cản lớn nhất trong công tác huy động sức dân tại huyện Nho Quan?

Rào cản lớn nhất nằm ở nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận người dân và cán bộ cơ sở, dẫn đến tâm lý thụ động trông chờ vào hơn 60% nguồn vốn ngân sách hỗ trợ từ cấp trên. Thêm vào đó, tỷ lệ người dân trực tiếp tham gia góp ý kiến quy hoạch mới chỉ đạt 42%, làm hạn chế quyền làm chủ của người dân.

Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở có tác động thế nào đến kết quả huy động nguồn lực?

Việc thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 giúp bảo đảm quyền được biết, được bàn, được làm và kiểm tra của người dân. Khi tính công khai minh bạch tài chính đạt 100%, niềm tin xã hội được củng cố vững chắc, từ đó thúc đẩy tỷ lệ đồng thuận đóng góp tự nguyện tăng thêm từ 20% đến 30%.

Mô hình quốc tế nào cung cấp bài học kinh nghiệm tốt nhất cho huyện Nho Quan?

Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc với 3 nguyên tắc cần cù, tự lực, hợp tác và chương trình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản là hai bài học tiêu biểu. Các mô hình này nhấn mạnh việc phát triển kinh tế từ nội lực, hướng tới mục tiêu thu nhập bình quân trên 45 triệu đồng/người/năm cho cư dân nông thôn.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa sâu sắc khung lý luận và phương pháp đánh giá 5 nguồn vốn cộng đồng trong phát triển nông thôn bền vững.
  • Đánh giá khách quan thực trạng huy động nguồn lực tại huyện Nho Quan qua 198 mẫu khảo sát, chỉ rõ nguồn lực xã hội hóa đạt từ 25% đến 30%.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn về tâm lý ỷ lại và tỷ lệ tham gia ý kiến vào quy hoạch của người dân còn ở mức thấp 42%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình đến năm 2020 nhằm nâng thu nhập nông thôn lên mức 45 triệu đồng/người/năm.
  • Xác lập cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn đối ứng và nâng tỷ lệ đồng thuận của nhân dân đạt trên 90%.

Để bảo đảm tiến độ toàn bộ các xã trên địa bàn huyện Nho Quan đạt chuẩn nông thôn mới, UBND huyện và các cơ quan ban ngành cần khẩn trương cụ thể hóa các khuyến nghị thành kế hoạch hành động chi tiết ngay trong quý 3 năm 2019. Hãy tham khảo và áp dụng linh hoạt các giải pháp từ luận văn để tối ưu hóa nguồn lực phát triển kinh tế nông thôn tại đơn vị của bạn.