Chương 1: Cơ sở lý luận về động xuất khNu hàng hóa tại doanh nghiệp SVTH: Hồ Thị Minh Ánh 2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Võ Thị Mai Hà Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khNu hàng hóa tại công ty TNHH Cardinal Maritime. Chương 3: Một số giả pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khNu hàng hóa tại Công ty TNHH Cardinal Maritime. SVTH: Hồ Thị Minh Ánh 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Võ Thị Mai Hà PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1. CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ ĐỘ G XUẤT KHẨU HÀ G HÓA TẠI DOA H GHIỆP 1.
hững vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khuu. Khái niệm về xuất khNu Theo Wikipedia: “Hoạt động xuất khNu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.” Hoạt động xuất khNu là một mặt của hoạt động thương mại quốc tế nên nó cũng có những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế và nó liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế khác như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế.Hoạt động xuất khNu không giống như hoạt động buôn bán trong nước ở đặc điểm là nó có sự tham gia buôn bán của đối tác nước ngoài, hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ở phạm vi nước ngoài. Hoạt động xuất khNu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khNu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng. Hoạt động xuất khNu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Hoạt động xuất khNu mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Nó không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đNy mạnh sản xuất trong nước nhờ tích luỹ từ khoản thu ngoại tệ cho đất nước, phát huy tính sáng tạo của các đơn vị kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế. Kinh doanh xuất nhập khNu còn là phương tiện để khai thác các lợi thế về tự nhiên, vị trí địa lý, nhân lực và các nguồn lực khác.
Ngoài ra hoạt động xuất khNu còn thúc đNy quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước và đNy mạnh tiến trình hội nhập nên kinh tế toàn cầu. SVTH: Hồ Thị Minh Ánh 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Võ Thị Mai Hà 1. Vai trò của hoạt động xuất khNu. Đối với nền kinh tế quốc dân.
Xuất khNu là một trong những nhân tố tạo đà, thúc đNy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ. Nhưng hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam) đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ: Xuất kh u tạo nguồn vốn cho nhập kh u, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu chậm phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lượng vốn lớn để nhập khNu công nghệ thiết bị tiên tiến. Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khNu một nước có thể sử dụng nguồn vốn huy động chính như sau: - Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ. - Thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước.
- Thu từ hoạt động xuất khNu. Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này, các nước đi vay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ phải trả sau này. Do vậy xuất khNu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng.
Xuất khNu tạo tiền đề cho nhập khNu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khNu. Ở một số nước, một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khNu – nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện thực. Xuất kh u thúc đ y chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đ y sản xuất phát triển. Dưới tác động của xuất kh u, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang thay đổi mạnh SVTH: Hồ Thị Minh Ánh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Võ Thị Mai Hà mẽ.
Xuất kh u làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khNu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Thứ nhất, chỉ xuất khNu những sản phNm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khNu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển. Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khNu.
Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đNy xuất khNu. Nó thể hiện: - Xuất khNu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khNu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tNy…sẽ có điều kiện phát triển. - Xuất khNu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phNm, góp phần ổn định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
- Xuất khNu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, mở rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc gia có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều lần giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ không có khả năng sản xuất được. - Xuất khNu góp phần thúc đNy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.
Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu hoá như ngày nay, mỗi loại sản phNm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước thứ năm. Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động ngược trở lại của chuyên môn hoá tới xuất khNu. Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phương tiện thanh toán, xuất khNu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc biệt với các nước đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ xuất khNu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế.
SVTH: Hồ Thị Minh Ánh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Võ Thị Mai Hà Xuất kh u có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Đối với công ăn việc làm, xuất khNu thu hút hàng triệu lao động thông qua việc sản xuất hàng xuất khNu. Mặt khác, xuất khNu tạo ra ngoại tệ để nhập khNu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân. Xuất kh u là cơ sở để mở rộng và thúc đ y sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khNu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khNu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hề kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… ngược lại sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khNu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khNu phát triển. Có thể nói xuất khNu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói chung sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của nền kinh tế bằng hai cách: - Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá được sản xuất ra. - Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác động của xuất khNu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau. Đối với doanh nghiệp. Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khNu là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình.