CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về quá trình phát triển TDTT từ thời kỳ đổi mới đến nay Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, đến nay ngành TDTT đã có những phát triển mạnh mẽ đáng ghi nhận về nhiều mặt: phát triển phong trào TDTT sâu rộng, đội ngũ cán bộ TDTT được kiện toàn, hệ thống CSVC trang thiết bị được đầu tư nâng cấp từ trung ương đến cơ sở; các thiết chế TDTT được xây dựng đáp ứng công tác tổ chức quản lý điều hành các hoạt động TDTT các cấp; nhiều loại hình hoạt động TDTT mới được du nhập và phát triển mạnh (thể thao mạo hiểm, golf,.); công tác huy động xã hội hóa TDTT mang lại hiệu quả cao trong phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vũ, đầu tư xây dựng hệ thống CSVC TDTT. Để khái quát qua những quá trình phát triển TDTT cho mọi người từ thời kỳ đổi mới đến nay, luận án tổng hợp từ cuốn Sơ thảo lịch sử TDTT Việt Nam năm 2007 [16], cuốn 60 năm TDTT Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước năm 2006 [103], các báo cáo tổng kết hàng năm của ngành TDTT, báo cáo thực hiện Chiến lược TDTT [13], [19], [86]. nội dung khái quát như sau: 1.
Khái quát về quá trình phát triển TDTT quần chúng: Khái quát các thành tựu của TDTT quần chúng có thể tổng hợp theo báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [13], [19] như sau: Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước tiếp tục có những chủ trương, chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung, lĩnh vực TDTT được quan tâm đầu tư nhiều hơn so với giai đoạn trước. Hầu hết các địa phương đã ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai Chiến lược, có các nghị quyết, chính sách đặc thù đối với lĩnh vực TDTT. Có thể nói, việc ban hành, đổi mới cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực đầu tư phát triển lĩnh vực TDTT thời gian qua đã tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động TDTT, các doanh nghiệp TDTT phát triển; đồng thời đã tháo gỡ được những vấn đề phát sinh cần được quản lý, hướng dẫn để các môn thể thao phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế thể thao và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tổ chức các dịch vụ thể dục. [19] 7 TDTT quần chúng có nhiều chuyển biến rõ rệt, theo hướng đẩy mạnh phát triển TDTT trong từng đối tượng, đặc biệt là HS,SV, nông dân, người cao tuổi.
Phong trào TDTT quần chúng trong cả nước diễn ra sôi nổi, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Số lượng người tập TDTT thường xuyên, số câu lạc bộ TDTT gia tăng mạnh theo hàng năm. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được triển khai rộng khắp cả nước đã phát huy hiệu quả thực tiễn và là động lực thúc đẩy phong trào TDTT ở cơ sở. Từ năm 2015, Bộ VHTTDL đã phát động các ngành, địa phương tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Ngành TDTT.
Hoạt động này đã trở thành truyền thống hàng năm, thu hút hàng triệu người tham gia. Hệ thống đào tạo cán bộ, huấn luyện viên, giáo viên TDTT được chuẩn hóa từ trung ương đến địa phương. Các điều kiện đảm bảo để phát triển TDTT cho mọi người được củng cố và hoàn thiện. Khái quát về quá trình phát triển GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: Khái quát quá trình phát triển GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường được tổng hợp theo Đề án tổng thể phát triển GDTC do Bộ GD&ĐT xây dựng và báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [90] [19] như sau: Công tác GDTC và thể thao trong nhà trường đã có những chuyển biến tích cực.
Bộ GD&ĐT đã xây dựng môn học GDTC mới bảo đảm tính cân đối, thống nhất, có tính kế thừa và phát triển giữa các cấp học. Hình thức tổ chức và nội dung tập luyện TDTT của học sinh, sinh viên ngày càng phong phú, đa dạng và dần đi vào nề nếp. Nhiều nội dung tập luyện được đưa vào các hoạt động ngoại khoá, đặc biệt là các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được lồng ghép với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. [19] Đội ngũ giáo viên GDTC và thể thao trong nhà trường đã được tăng cường hơn về số lượng, chất lượng chuyên môn phần nào được nâng cao.
Hầu hết các giáo viên GDTC ở các trường học được đào tạo, nâng cao kiến thức từng bước đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ. Hệ thống CSVC, sân chơi, bãi tập, công trình thể thao, dụng cụ tập luyện thi đấu thể thao ở trường học các cấp bước đầu được quy hoạch và đầu tư xây dựng. [90] 8 Hàng năm, ngành GD&ĐT đã tổ chức nhiều hoạt động thể thao cho học sinh, sinh viên nhằm đánh giá công tác GDTC và luyện tập của các nhà trường. Đặc biệt, các hoạt động lớn được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần, như: Hội khỏe Phù đổng toàn quốc, Đại hội Thể thao sinh viên toàn quốc… Qua các hoạt động phong trào đã tuyển chọn lực lượng đại diện cho học sinh, sinh viên Việt Nam tham dự các Đại hội Thể thao học sinh, sinh viên quốc tế đạt được nhiều kết quả tốt tại các kỳ Đại hội Thể thao học sinh Đông Nam Á, Đại hội Thể thao sinh viên Đông Nam Á.
Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của TDTT thời kỳ qua Bên cạnh những thành tựu vượt bậc đạt được từ thời kỳ đổi mới đến nay, ngành TDTT đã đánh giá và nhận thấy vẫn còn một số mục tiêu, nhiệm vụ chưa đạt được và còn tồn tại, hạn chế như sau: Phong trào TD,TT quần chúng phát triển mạnh song chưa đều, chất lượng chưa cao. Các chính sách phát triển TDTT quần chúng còn thiếu, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Điều kiện về sân bãi, trang thiết bị phục vụ tập luyện TDTT ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo còn khó khăn. Do thiếu cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động và đội ngũ cộng tác viên, hướng dẫn viên TDTT chất lượng hoạt động TDTT ở cơ sở chưa cao.
[19] Công tác GDTC trong nhà trường tuy được duy trì nhưng chất lượng chưa cao. Chương trình môn học GDTC, phương pháp dạy học và cách kiểm tra, đánh giá còn bất cập. CSVC, trang thiết bị tập luyện thể dục và quỹ đất dành cho GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu. Đội ngũ giáo viên GDTC còn thiếu về số lượng.
[19] Đầu tư kinh phí cho TDTT còn thấp so với nhu cầu, đặc biệt là đầu tư cho xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình thể thao. [19] Bộ máy tổ chức về TDTT, đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn của ngành còn thiếu và chậm được kiện toàn. Hệ thống văn bản quản lý và các chính sách đặc thù trong lĩnh vực TDTT tuy đã được hoàn thiện một bước nhưng còn thiếu, chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực hoạt động TDTT. [19] Công tác xã hội hoá TDTT đã huy động được nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp và xã hội đầu tư phát triển TDTT, song hiệu quả thu được vẫn chưa cao, do 9 vẫn bị sự chi phối bởi tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, nhiều nơi, nhiều cấp còn có quan niệm chưa đầy đủ về chủ trương xã hội hoá TDTT.
Bài học kinh nghiệm Từ những đánh giá tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ngành TDTT đã đưa ra nhận thấy những bài học kinh nghiệm như sau: Việc ban hành chính sách pháp luật và các chiến lược, nghị quyết, quy hoạch, đề án về lĩnh vực TDTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tạo dựng hành lang pháp lý và định hướng phát triển sự nghiệp TDTT theo các lộ trình, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Bên cạnh đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác TDTT cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. [19] Phải đặt đúng vai trò, vị trí tác dụng của công tác TDTT trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc của nhân dân; trong việc góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngang với các quốc gia trong khu vực; trong việc góp phần bảo đảm an sinh xã hội…Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, phát huy các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực TDTT. Làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động TDTT.
Chính sách phát triển TDTT và những vấn có đề liên quan 1. Chính sách và những vấn đề có liên quan 1. Khái niệm chính sách Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Về định nghĩa Chính sách có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau.
Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. 10 Theo Nguyễn Đình Tấn: “Chính sách là hình thức tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các lợi ích, các mục tiêu tiêu, nhiệm vụ của các nhóm, tập đoàn xã hội ấy. Chính sách thường được thể chế hóa trong các quyết định, hệ thống pháp luật, các quy chuẩn hành vi và những quy định khác” [78].