Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỂ DỤC THỂ THAO QUẦN CHÚNG VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN YÊN ĐỊNH 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thể dục, thể thao quần chúng 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm Quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó còn được gọi là hoạt động quản lý. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau, như: [14].
Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [1]. Quản lý là bảo đảm sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới [14], [15]. Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [13]. Như vậy, quản lý là một dạng hoạt quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng tổ hợp những cách thức, những phương pháp nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng, các cơ 9 hội của cá nhân cũng như của tổ chức, để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Khái niệm thể dục, thể thao Thể dục thể thao là bộ phận của nền văn hóa xã hội, một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực tất cả những hoạt động thể chất của cơ thể nhằm duy nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người phát triển cân đối hợp lý. Như vậy, TDTT là hoạt động của con người thông qua các bài tập luyện, những hình thức trò chơi, thi đấu theo những quy tắc nhất định nhằm cải thiện và nâng cao sức khỏe, thể chất, thể lực của con người, nâng cao thành tích thể thao, phát triển con người một cách toàn diện góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. TDTT bao gồm ba bộ phận chủ yếu tạo thành: TDTT trường học, TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao. TDTT trường học bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động TDTT ngoại khóa của học sinh trong trường học.
Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học [14], [15]. Khái niệm thể dục thể thao quần chúng Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện và thi đấu của nhân dân với mục đích rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, phục vụ trực tiếp công tác, học tập, lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chữa bệnh, nghỉ ngơi giải trí của các đối tượng mầm non đến người có tuổi. Đối tượng của TDTT quần chúng là tất cả mọi người (kể cả người tàn tật). Khác với thể thao thành tích cao là lĩnh vực dành riêng cho một số người có tài năng đặc biệt, TDTT quần chúng là hình ảnh TDTT ở mỗi quốc gia, là một hoạt động rộng rãi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia tập luyện.
Sản phẩm của nó là một 10 trong các chỉ tiêu về dân trí, hạnh phúc của người dân và sự phồn vinh của xã hội [19]. Trên thế giới và ở Việt Nam có xuất hiện khái niệm thể thao cho mọi người (Sport for all). Xét về nội hàm của khái niệm này thì có thể nói nó thực chất là khái niệm TDTT quần chúng Phát triển TDTT quần chúng thực chất là quá trình tổ chức, vận động và hướng dẫn với nhiều hình thức, biện pháp đa dạng nhằm làm cho hoạt động này trở thành thói quen, nếp sống của đông đảo nhân dân. Phát triển TDTT quần chúng luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm của công tác TDTT.
Để tạo ra những động lực mới và sức sống của phong trào quần chúng luyện tập TDTT. Cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác TDTT trường học vì đây là cốt lõi của chiến lược phát triển TDTT của nước ta. TDTT trường học là môi trường thuận lợi để thế hệ trẻ nước ta rèn luyện thể chất, đạo đức, lối sống và cũng đồng thời là môi trường rộng lớn và giàu tiềm năng trong lĩnh vực phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước [16]. Nói chung, phong trào TDTT quần chúng là cơ sở để phát triển thể thao thành tích cao.
Phong trào càng rộng thì càng có nhiều người quan tâm và ủng hộ thể thao thành tích cao, càng có thêm nguồn tuyển chọn tài năng thể thao. Song không phải cứ có phong trào TDTT rộng rãi thì sẽ có lực lượng vận động viên đông đảo, có thành tích thể thao cao và ngược lại, bởi bên cạnh những mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau thì thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao là hai lĩnh vực có tính độc lập tương đối. Mỗi lĩnh vực có đối tượng riêng và bị chi phối bởi các quy luật đặc thù [35]. Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động rèn luyện sức khỏe bằng các bài tập thể chất và tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao nhằm bảo vệ sức khỏe, hoàn thiện thể chất, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận nhân dân được gọi là TDTT quần chúng.
TDTT quần chúng mang tính tự nguyện của người tập là một bộ phận và là bộ phận lớn nhất của thể thao cho mọi người không bao gồm giáo dục thể chất trong trường học và thể dục trong lực lượng vũ trang là bắt buộc. 11 Nhiệm vụ của TDTT quần chúng là tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tập luyện, rèn luyện thân thể và giải trí, tổ chức thi đấu biểu diễn, giao lưu, kiểm tra và đánh giá kết quả rèn luyện thân thể, tập luyện TDTT của mọi người. Theo “Điều 11, Luật TDTT sửa đổi năm 2018: Thể dục, thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể dục, thể thao tự nguyện nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho người tập” Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện và thi đấu của nhân dân với mục đích rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, phục vụ trực tiếp công tác, học tập, lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chữa bệnh, nghỉ ngơi giải trí của các đối tượng mầm non đến người có tuổi. Đối tượng của TDTT quần chúng là tất cả mọi người (kể cả người tàn tật).
Khác với thể thao thành tích cao là lĩnh vực dành riêng cho một số người có tài năng đặc biệt, TDTT quần chúng là hình ảnh TDTT ở mỗi quốc gia, là một hoạt động rộng rãi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia tập luyện. Sản phẩm của nó là một trong các chỉ tiêu về dân trí, hạnh phúc của người dân và sự phồn vinh của xã hội. Trên thế giới và ở Việt Nam có xuất hiện khái niệm thể thao cho mọi người (Sport for all). Xét về nội hàm của khái niệm này thì có thể nói nó thực chất là khái niệm TDTT quần chúng [14], [15].
Khái niệm về câu lạc bộ thể dục thể thao Theo Từ điển thuật ngữ nước ngoài Nhà xuất bản Matxcơva năm 1975 định nghĩa CLB: “CLB là tổ chức xã hội liên kết nhóm người với mục đích giao lưu, trao đổi với nhau những vấn đề chính trị, khoa học, văn hoá, nghệ thuật, nghề nghiệp, tâm tư, tình cảm, ham muốn, hành vi, cuộc sống của con người” Đây là định nghĩa rất chung và rất rộng trong thiết chế xã hội.Trong các khái niệm đều thể hiện CLB là tổ chức xã hội nhằm truyền bá, giáo dục, đào tạo, xây dựng con người phát triển về các mặt chính trị, tư tưởng, văn hoá nghệ thuật, TDTT, nghề nghiệp và lối sống. Đây là tổ chức giáo dục mang tính chất xã hội. 12 Để giáo dục và đào tạo con người về một lĩnh vực nào đó, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện thì có hai hệ thống giáo dục: Hệ thống giáo dục chính thống của Nhà nước bắt buộc; Hệ thống giáo dục xã hội dựa trên sự tự nguyện ham thích của mỗi người dân, còn gọi là hệ thống giáo dục tự nguyện. CLB trong xã hội là một loại hình giáo dục tự nguyện nằm trong hệ thống giáo dục xã hội.
Quản lý hoạt động thể dục thể thao quần chúng Thể dục thể thao quần chúng là một hoạt động tập luyện và vui chơi giải trí, thi đấu thể thao của các đối tượng nhân dân nhằm thỏa mãn nhu cầu nâng cao sức khỏe, tăng cường thể chất và tinh thần của bản thân tham gia hoạt động các văn hóa - xã hội của cộng đồng [4], [5]. Nhìn tổng thể, QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [32], [40]. Như vậy, với cách thức tiếp cận trên, QL về hoạt động TDTT quần chúng được hiểu là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước, trên cơ sở pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm thực hiện những mục tiêu phát triển hoạt động TDTTQC, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.