MỞ ĐẦU Việt Nam đang trên con đường đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước để theo kịp và hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới. Điều này đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực dồi dào đủ năng lực trí tuệ, xã hội phải có những con người có trình độ học vấn, hiểu biết mọi lĩnh vực. Đào tạo ra những con người có sức khỏe, có trình độ cao về khoa học kĩ thuật và công nghệ đáp ứng được yêu cầu của xã hội là nhiệm vụ của ngành giáo dục. Vì thế nghị quyết TW2 khóa VIII năm 1996 và các nghị quyết, văn kiện của Đảng trong các kì đại hội đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển” do đó mục tiêu của giáo dục và đào tạo ở nước ta đã xác định là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [Điều 2- luật giáo dục 2012].
Vì vậy việc nâng cao sức khỏe thể chất cho thanh niên sẽ góp phần làm tăng chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không có bệnh hoặc tật nguyền” (WHO). Như vậy, một cơ thể khỏe mạnh trước hết phải có thể chất tốt, sức khỏe về mặt thể chất phản ánh một phần thực trạng sức khỏe nói chung và đặc biệt liên quan chặt chẽ đến khả năng lao động và thẩm mỹ của con người. Do đó vấn đề phát triển thể chất ở lứa tuổi học sinh, sinh viên là một trong những vấn đề được quan tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người của mỗi quốc gia.
1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên” [Điều 20, Mục 2 - Luật Thể dục, thể thao 2006]. Để đạt được những mục tiêu này, vai trò cũng như chất lượng của giáo viên giáo dục thể chất trong nhà trường là một yếu tố hết sức quan trọng, nhiệm vụ của giáo viên giảng dạy môn Giáo dục thể chất là hướng dẫn học sinh tham gia các bài tập thể dục nhằm nâng cao sức khỏe đồng thời phát hiện, đào tạo các vận động viên năng khiếu. Từ sau năm 1975 đến nay đã có một số tác giả tiến hành nghiên cứu trên đối tượng sinh viên chuyên ngành Thể dục thể thao. Tuy nhiên những nghiên cứu dọc về hình thái - thể lực của sinh viên sư phạm Thể dục thể thao giai đoạn từ 18 đến 21 tuổi chưa nhiều.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự phát triển cơ thể sinh viên khóa 43 trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội từ năm 2010-2013” nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định thực trạng một số chỉ số hình thái - thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên K43 Trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội từ năm 2010-2013. - Đánh giá mức độ phát triển thể chất của sinh viên K43 trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội sau bốn năm học tập. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI - THỂ LỰC, CHỨC NĂNG SINH LÍ CƠ THỂ NGƢỜI 1.
Những nghiên cứu trên thế giới Hình thái và thể lực là những đặc điểm sinh học quan trọng, phản ánh một phần thực trạng sức khỏe và đặc biệt liên quan chặt chẽ đến khả năng lao động của con người. Vì vậy, đã từ lâu hình thái - thể lực được các nhà y học, hình thái học quan tâm nghiên cứu. Quyển sách đầu tiên viết về sự tăng trưởng chiều cao ở người (Wachstum der Menschen in die Lange) của A.Stoeller được xuất bản ở Magdeburg (Đức) vào năm 1729. Tuy nhiên, trong cuốn sách này chưa có các số liệu đo đạc cụ thể.
Nghiên cứu về sự tăng trưởng ở người thực sự được trình bày trong luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert ở Halle (Đức) năm 1754, trong đó trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao đứng và các chỉ tiêu sinh học khác của một loạt bé trai, bé gái và thanh niên từ 1-25 tuổi tại các trại mồ côi Hoàng gia ở Berlin và một số nơi khác trên nước Đức. Công trình này được xem là nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng ở trẻ em [dẫn theo 30]. Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao đứng được thực hiện bởi Philibert Guénneau de Monbeilard trên con trai của mình từ năm 1759 đến năm 1777. Trong 18 năm liên tục, cậu bé được đo 2 lần mỗi năm, cách nhau 6 tháng.
Đây là một trong số những nghiên cứu tốt nhất đã được tiến hành cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế kỷ XIX [dẫn theo 17]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin. Vào năm 1919, Rudolf Martin đã đề xuất các phương pháp và dụng cụ đo đạc kích thước cơ thể người một cách hệ thống qua hai tác phẩm “Giáo trình về nhân học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lí thống kê” [dẫn theo 22]. Từ đó đến nay Nhân trắc học đã trở thành một môn khoa học độc lập và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như:tìm hiều các đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người (trong nhân chủng học), xác định những biến đổi hình thái cơ thể, bệnh lý (trong y học), thiết kế công nghiệp (trong ecgonomi).
Martin đưa ra phương pháp đánh giá mới về thể lực. Ông lập bảng chuẩn nhiều đặc điểm hình thái cơ thể, đối với mỗi đặc điểm lại chia làm nhiều loại. Phương pháp này sau đó được Stephenco bổ sung, ông coi chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực là ba đặc điểm biến đổi độc lập trong khi thực tế chỉ có chiều cao đứng là biến đổi độc lập còn cân nặng và vòng ngực thì biến đổi phụ thuộc vào chiều cao đứng [dẫn theo 12]. Trong những năm 60 của thế kỉ XX,trong chương trình nghiên cứu sinh học thế giới do UNESSCO chủ trì, nhân trắc học được đặc biệt chú ý và các dụng cụ đo đạc nhân trắc học đã được chuẩn hóa và sản xuất ở nhiều nước.
Năm 1961, Nold và Volsuski nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao ở trẻ em. Cũng trong thời gian này, Graef và Cone đã thống kê nhiều số liệu chứng minh rằng tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng các kích thước và chỉ số cơ thể, đặc biệt là chiều cao và cân nặng. Năm 1962, Baskirov đã xuất bản cuốn “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người” trong đó tác giả nêu một số quy luật phát triển cơ thể dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống khác nhau [dẫn theo 44]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Vandervael một thầy thuốc người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa“Nhân trắc học”và đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực theo các chỉ số đánh giá thể lực với các đặc trưng thống kê trung bình cộng ( X ) và độ lệch chuẩn (SD) [dẫn theo 29].
Cũng giống như chiều cao, cân nặng, vòng ngực là chỉ tiêu thường được sử dụng trong các nghiên cứu cơ bản về hình thái người. Vòng ngực được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỷ XIX, đến cuối thế kỉ XIXvòng ngực trở thành một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá thể lực sau chiều cao, cân nặng. Việc đánh giá thể lực chỉ dựa trên một trong các chỉ tiêu như cân nặng, chiều cao đứng hay vòng ngực đều không cho kết quả mong muốn. Vì vậy, người ta đã hợp nhất nhiều số đo vào một chỉ số chung để đánh giá thể lực.
Ban đầu là những chỉ số dùng 2 kích thước (cân nặng và chiều cao) như chỉ số Broca, chỉ số Quetelet, chỉ số Kaup, Rohrer và Livi, v. sau đó là những chỉ số được hợp nhất từ 3 kích thước trở lên như chỉ số Pignet, chỉ số Vervaek, chỉ số Pimo, v. Nhìn chung, một chỉ số được xác định từ nhiều thông số khác nhau thì chỉ số đó càng chính xác nhưng việc đo đạc và tính toán càng cồng kềnh và phức tạp. Trong thế kỉ XIX, các công trình nghiên cứu về nhân trắc học còn hạn chế về số lượng, kích thước chưa thống nhất, phương pháp đo lường và các tính toán thống kê còn đơn giản.
Trong vòng 50 năm trở lại đây, một số nước trên thế giới đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về nhân trắc học như: Đức, Pháp, Mĩ, Liên Xô, Nhật, Rumani. Các công trình này đề cập nhiều tới sự tăng trưởng các kích thước cơ thể và sự phát triển cơ thể của học sinh ở các lứa tuổi. Các nhà khoa học nhận thấy trong thời gian gần đây, có sự gia tăng về các số đo cơ thể của 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thanh thiếu niên. Đặc biệt tại các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật các nhà khoa học đã xác định được một cách đầy đủ, hoàn thiện các chỉ số thể lực để đánh giá thực trạng và mức tăng trưởng thể lực của dân tộc qua những giai đoạn khác nhau [53, 56].
Một chỉ tiêu khác được nhiều nhà khoa học quan tâm là huyết áp động mạch. Huyết áp động mạch được nghiên cứu từ thế kỉ XIX do nhiều tác giả tiến hành. Huyết áp được Korotkov xác định bằng phương pháp đo gián tiếp, phương pháp này hiện nay vẫn được dùng rất phổ biến. Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, huyết áp của nam và nữ từ 5 tuổi trở nên đã có sự khác biệt rõ, trong đó huyết áp của nam thường cao hơn của nữ và còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường sống [54, 55].