Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về vận dụng thẻ điểm cân bằng đánh gia hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên thẻ điểm cân bằng 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nghiên cứu đã khảo sát sự vận dụng BSC vào hoạt động kinh doanh ở các lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Trong nghiên cứu "Thẻ điểm cân bằng và hiệu suất tài chính: Bằng chứng từ các công ty sản xuất hàng tiêu dùng tại Nigeria" của Christmas D. Afodigbueokwu va Raymond A.
Ezejiofor (2019), đã sử dụng dữ liệu từ báo cáo và tài khoản hang năm của 20 công ty sản xuất hang tiêu dùng tai Nigeria trong khoảng thời gian 7 năm. Bằng phương pháp phân tích hồi quy, các tác giả đã kiêm tra các giả thuyết. Kết quả cho thấy các yếu tố học tập và phát triển, khách hàng và quy trình kinh doanh đều có ảnh hưởng đến ty lệ lợi nhuận trên tài sản của các công ty này. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất tăng cường sự tham gia của khách hàng trong quyết định để tạo lòng trung thành và đạt được lợi thế cạnh tranh.
"Nghiên cứu thực nghiệm về Thẻ điểm cân bằng như một công cụ đo lường và quản lý hiệu suất doanh nghiệp" của Dan và Anish Kumar (2017), đã tập trung vào việc sử dụng Thẻ điểm cân bằng như một công cụ quản lý hiệu suất doanh nghiệp. BSC nhấn mạnh việc đánh giá doanh nghiệp không chỉ dựa trên các chỉ số tài chính mà còn bao gồm các khía cạnh khác như tạo ra giá trị tương lai thông qua đầu tư vào khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, quy trình, công nghệ và déi mới. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng BSC trong ngành y tế và hàng tiêu dùng nhanh tại An Độ, và đã nghiên cứu bốn quan điểm thông thường của BSC cùng với một số quan điểm bổ sung được đề xuất thông qua cuộc khảo sát 36 công ty. Nghiên cứu "Thẻ điểm cân bằng và Hiệu suất công ty" của Salli Afdallash và Rina Trisnawati (2023), đã phân tích mối quan hệ giữa Thẻ điểm cân bằng với hiệu suất tài chính trong các công ty ngành hàng tiêu dùng được niêm yết trên IDX trong giai đoạn 2019-2022.
Mẫu nghiên cứu bao gồm 160 mẫu trong 4 năm. Các tác giả đã sử dụng kỹ thuật lay mẫu mục dich và phân tích dữ liệu mô tả theo phương pháp định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy khía cạnh học tập và phát triển đem lại hiệu suất cao nhất cho các công ty, theo sau là khía cạnh khách hàng và khía cạnh tài chính (sử dụng tỷ lệ ROE và ROA), cuối cùng là khía cạnh quy trình phát triển nội bộ. "Do lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng thực phẩm: tiếp cận từ Thẻ điểm cân bằng" của Barbara Bigliardi và Eleonora Bottani (2010), đã sử dụng phương pháp kết hợp phân tích tài liệu, kỹ thuật Delphi và nghiên cứu trường hợp dé phát triển và kiểm tra mô hình Thẻ điểm cân bằng trên hai công ty thực phẩm.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy ba trong bốn quan điểm của BSC đã được xác nhận, trong khi quan điểm về học tập và phát triển có kết quả khác biệt. Mặc dù nghiên cứu này giới hạn trong ngữ cảnh chuỗi cung ứng thực phẩm, nó cung cấp một hệ thống đo lường hiệu suất có cau trúc cho ngành công nghiệp này. Mô hình BSC đã được phát triển có thé được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho ngành công nghiệp thực phâm, thiết lập các chỉ số đánh giá hiệu suất có thê áp dụng, và nghiên cứu tin rằng nhà nghiên cứu và người thực hành sẽ có lợi từ công cụ này. Một nghiên cứu khác ở các doanh nghiệp có quy mô lớn ở Bangladesh, "Empirical Study of the underlying Theoretical Hypotheses in the Balanced Scorecard model: further evidence from Bangladesh” của Halabi va Cộng sự, Asia Pacific Management Accounting Journal, 2010.
Nhóm tac giả nghiên cứu van dung BSC ở các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ hàng đầu có trụ sở ở Bangladesh. Nghiên cứu này được thực hiện băng cách thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp. Với bảng câu hỏi cấu trúc được gửi đến 150 công ty hàng đầu ở Bangladesh. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tương quan giữa các khía cạnh của BSC.
Nghiên cứu cũng chi ra rằng, các biện pháp phi tai chính sẽ giúp cho doanh nghiệp được hưởng lợi và làm cho chỉ tiêu tai chính được tăng lên. Nghiên cứu này còn cho rang, việc vận dụng BSC sẽ giúp cho doanh nghiệp cải thiện được HỌHĐ (Halabi và cộng sự, 2010). Các công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, xu hướng áp dụng mô hình thẻ điểm cân bằng bắt đầu nổi lên khoảng năm 2000. Các công ty tư vấn tài chính đã nhận thức tiềm năng của mô hình này và bắt đầu triển khai và cung cấp dịch vụ tư vấn liên quan.
Mặc du một số công ty lớn đã thực hiện triển khai BSC, nhưng ở giai đoạn đầu, kết quả chưa đạt được sự thành công mạnh mẽ như kỳ vọng (Lê Nữ Như Ngọc, Ngô Nữ Mai Quỳnh, 2019). Liên quan đến hướng nghiên cứu, các tác giả trong nước tập trung vào hai hướng chính, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Về nghiên cứu định tính, tác giả Đặng Thị Hương (2010) trình bày năm điểm thuận lợi và khó khăn khi triển khai BSC tại các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam. Các điểm thuận lợi bao gồm sự chủ động trong đổi mới quản lý, nhận thức về chiến lược, thực hiện mục tiêu quản lý, lao động cần cù và thông minh, và sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, các khó khăn bao gồm thiếu nhận thức và cam kết từ lãnh đạo, khó khăn trong việc thực hiện quy trình theo mô hình BSC, trình độ học vấn và năng lực quản lý hạn chế, văn hóa doanh nghiệp chưa chú trọng, và khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả không đề cập đến những điểm khác biệt khi áp dụng BSC trong lĩnh vực dịch vụ nói chung. Lại Xuân Thủy và Nguyễn Thị Thu Hiền (2020) dựa trên ý kiến của 63 cán bộ quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bài viết phân tích 6 điều kiện cần thiết để thành công trong việc áp dụng BSC trong quản trị chiến lược của các đơn vị công lập thuộc Trung ương Hội.
Các điều kiện này bao gồm văn hoá tổ chức hướng đến mục tiêu và kết quả, nhận thức và cam kết thực hiện BSC từ lãnh đạo cấp cao, môi trường thích hợp cho BSC, nguồn lực kỹ thuật và tài chính, chương trình tập huấn hiệu quả về BSC, và sự ảnh hưởng của khoa học và thực tiễn quản trị đối với việc ứng dụng BSC. Ngoài ra, các tác giả Nguyễn Thị Huyền (2019), Võ Hữu Sang (2019), Phạm Tuấn Đạt (2022), Trần Cao Vinh (2022) có chung mục tiêu là vận dụng thẻ điểm cân bằng để phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh ở các loại hình doanh nghiệp, nhóm ngành khác nhau. Một số tác giả khác như Hoàng Kim Dung (2015), Dang Ngọc Hung (2015), Doan Thanh Hai (2016) có hướng nghiên cứu áp dụng mô hình BSC vào đánh giá hiệu quả quản tri chiến lược tại các đơn vị. Về nghiên cứu định tính, các tác giả thường sử dụng phương pháp này đề đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc ứng dụng mô hình thẻ điểm cân bằng tại một doanh nghiệp.
Huỳnh Thị Kim Xuân (2020) kết luận rằng sự dễ sử dụng của BSC có ảnh hưởng cùng chiều và mạnh nhất đến việc vận dụng BSC, sự hữu ich của BSC có ảnh hưởng cùng chiều, trong khi nhận thức về khả năng của BSC không có ảnh hưởng. Trái với kết luận trên, Nguyễn Thị Thu Tuyết (2022) thông qua nghiên cứu của mình kết luận nhận thức về sự dé sử dụng của BSC không có ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC trong công tác quản tri chiến lược của các doanh nghiệp dịch vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu của Trương Thị Ngọc Xuyên (2018) cho thấy chiến lược kinh doanh có mức độ tác động là = 0.303; nhân tố mức độ tham gia của lãnh đạo cấp cao ảnh hưởng mạnh thứ hai với B = 0.282, nhân tố quy mô công ty ảnh hưởng mạnh thứ ba với = 0.270, nhân tổ trình độ nhân viên kế toán ảnh hưởng thứ tư với B = 0.234, nhân tố truyền thông nội bộ với B = 0.205 và nhân tố chi phí tô chức có ảnh hưởng thấp nhất có mức ảnh hưởng = 0.179 đến việc vận dụng BSC của các doanh nghiệp xây dựng Thành phó Hồ Chí Minh. Đối với việc vận dụng mô hình BSC đề đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, tác giả đã tông hợp một số chỉ số tiêu biểu được các tác giả trước đó sử dụng theo 4 khía cạnh tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học tập và phát triển.