MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài đề tài Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhu cầu về hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan, tổ chức và các nhà nghiên cứu về an toàn thông tin ngày càng trở nên lớn và đa dạng. Quản lý chặt chẽ tài liệu, lưu trữ sẽ giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác chuyên môn trong các cơ quan, tổ chức. Việc lập và quản lý tài liệu lưu trữ đất đai là cơ sở quan trọng giúp cơ quan có thẩm quyền lập, quy hoạch sử dụng đất, đồng thời là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra đất đai, xử lý các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp. Đặc biệt, công tác quản lý và lưu trữ hồ sơ đất đai ở huyện Phú Lương và toàn tỉnh Thái Nguyên gặp một số khó khăn và thách thức, chẳng hạn như số lượng lớn dữ liệu cần được xử lý, bao gồm nhiều chủ đề trên địa bàn xã.
Dữ liệu đất đai biến động hàng ngày dựa trên các điều kiện thực tế. Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về đất đai rất cao. Phát huy giá trị kinh tế của thông tin đất đai theo quy định của pháp luật, là nguồn thu tái sử dụng để phát triển có hệ thống. Mặt khác hiện nay các xã tại huyện Phú Lương đã được đo đạc, đăng ký cấp và cấp đổi giấy chúng nhận đạt khoảng 90%; vì vậy việc đưa nguồn dữ liệu, tài liệu này vào quản lý để cập nhật thường xuyên là hết sức cần thiết.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai hoàn chỉnh cho huyện Phú Lương và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Thái Nguyên sẽ mang lại những lợi ích sau: Đảm bảo hệ thống dữ liệu an toàn, thông suốt và chính xác ở các cấp quản lý. Cung cấp kênh truy cập thông tin tập trung và thống nhất để tránh sai sót trong quá trình quản lý dữ liệu nguồn; nâng cao chất lượng của quá trình ra quyết định và tăng cường quản lý quốc gia trong lĩnh vực quản lý địa phương và 2 trong nước; tổ chức phục vụ các cơ quan quản lý quốc gia nhiều hơn hợp lý và giảm thời gian giao dịch; Hiệu quả đáp ứng nhu cầu cá nhân và tổ chức; Qua nghiên cứu học tập chuyên ngành Quản lý đất đai và qua quá trình nghiên cứu thực tiễn tại huyện Phú Lương, em chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả của công tác xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai huyện Phú Lương”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng cơ sở dữ liệu đất đai hiện có, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo dự án VILG. - Đánh giá hiệu quả của việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại huyện Phú Lương trong việc khai thác vận hành quản lý và giải quyết thủ tục hành chính.
- Xây dựng giải pháp nhằm nhân rộng mô hình của việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn huyện Phú Lương trong toàn tỉnh Thái Nguyên và trên phạm vi toàn quốc. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính và thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới. Ý nghĩa thực tiễn Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của công tác quản lý đất đai tại khu vực thực hiện dự án thông qua việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 2. Khái niệm công tác quản lý nhà nước về đất đai Đất đai là sản phẩm của tự nhiên và có trước sức lao động. Đất đai là tài sản chung của xã hội.Căn cứ vào đặc điểm của đất đai mà quản lý nhà nước về đất đai cũng có những đặc thù riêng.
Ở mỗi quốc gia, trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, việc quản lý và sử dụng đất đai cũng có những đặc điểm khác nhau đặc trưng cho chế độ chính trị nhất định. Ở nước ta, trải qua quá trình vận động xã hội lâu dài, Luật Đất đai năm 1993 đã ra đời, hệ thống hóa toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trước đây trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Từ đó đến nay nước ta đã hai lần sửa đổi luật đất đai vào các năm 2003 và 2013 nhưng nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước vẫn nhất quán và ít thay đổi. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai Nội dung quản lý nhà nước về đất đai gồm những hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền sở hữu nhà Nhà nước và bảo vệ quyền sở hữu đó về đất đai.
Chế độ quản lý Nhà nước đối với đất đai được bắt nguồn từ nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai. Ở nước ta, do quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nên nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai có những thay đổi nhất định. Qua 10 năm thực hiện Luật đất đai 2003, để phù hợp hơn với xu thế phát triển chung của đất nước, tăng cường sử dụng hiệu quả đất đai, tại kì họp 4 thứ 6 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật đất đai 2013 gồm 14 chương, 212 điều. Khái niệm hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Khái niệm cơ sở dữ liệu đất đai Theo quy định tại điều 23 điều 3 luật đất đai năm 2013: Cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật bằng phương tiện điện tử. Cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính, dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai được sắp xếp, tổ chức tư vấn, cập nhật, vận hành, quản lý và cập nhật thường xuyên dưới dạng điện tử. Cơ sở dữ liệu địa chính là thành phần cơ bản của cơ sở dữ liệu đất đai, làm cơ sở cho việc xây dựng và định vị không gian của các cơ sở dữ liệu thành phần khác. Các tài liệu của hồ sơ địa chính - Sổ địa chính: Là sổ ghi về chủ sử dụng đất và các thông tin về thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người đó.
- Sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Sổ theo dõi, quản lý việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.- Sổ mục kê đất đai: Là sổ ghi các thửa đất và các đối tượng chiếm đất nhưng không có ranh giới khép kín trên bản đồ. - Sổ theo dõi biến động đất đai: Là sổ ghi chép các trường hợp đã đăng ký biến động đất đai đã được chỉnh lý vào sổ địa chính. 5 - Bản đồ địa chính: Bản đồ thể hiện các yếu tố tự nhiên của đất đai và các yếu tố địa lý liên quan đến việc sử dụng đất, được thành lập theo đơn vị hành chính của thành phố, quận, huyện. - Ngoài ra, còn có các loại bản đồ, sơ đồ, trích lục, trích lục chính thửa dùng để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên tắc lập và quản lý hồ sơ địa chính - Lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. - Lập, chỉnh lý theo đúng trình tự thủ tục, hình thức, quy cách đối với mỗi loại tài liệu. - Hồ sơ địa chính phải bảo đảm tính thống nhất: + Giữa bản đồ, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động. + Giữa bản gốc và các bản sao của hồ sơ địa chính.
+ Giữa hồ sơ địa chính với GCN và hiện trạng sử dụng đất. Nguyên tắc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại điều 10 Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04/10/2010, cụ thể như sau: - Việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu địa chính phải bảo đảm chính xác, khoa học, khách quan, kịp thời và tuân thủ các quy định hiện hành về lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. tài sản khác gắn liền với đất. - Cơ sở dữ liệu địa chính được xây dựng theo đơn vị hành chính xã, huyện, thị trấn (gọi chung là cấp xã) và được tổ chức quản lý trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi là thị xã).
), thường là cấp huyện) và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh). Cơ sở dữ liệu địa chính tập trung được tổng hợp từ tất cả các đơn vị hành 6 chính cấp tỉnh trên toàn quốc. Mức độ tổng hợp sẽ do Quản lý đất đai quy định cụ thể theo yêu cầu quản lý của từng thời kỳ.