Mở đầu. - Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. - Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. - Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Phần 5: Các giải pháp. e 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 2. Quan điểm về đói nghèo và mức chuẩn đói nghèo 2. Quan điểm đói nghèo trên thế giới Khái niệm về đói nghèo được đưa ra tại hội nghị bàn về nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra khái niệm như sau: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương.
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại tách riêng đói và nghèo thành hai khái niệm riêng: - Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. - Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, thường vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Liên hợp Quốc đưa ra hai khái niệm chính về đói nghèo như sau: - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu.
Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng. e 6 - Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định tuỳ thuộc vào mức sống chung của xã hội.
Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định 2. Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam Nhìn chung, quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá tương đồng với những định nghĩa về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới. Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993.Tương tự định nghĩa đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định.
Như vậy, đói nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà ở cả phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân. Chuẩn mực và chỉ tiêu đánh giá đói nghèo 2. Chuẩn nghèo trên thế giới Thứ nhất là, tiêu chí phát triển con người (HDI) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP): Tiêu chí này dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản như tuổi thọ dân cư, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân trên đầu người trong năm. e 7 Thứ hai là, tiêu chí đánh giá nghèo theo đường nghèo: Theo đó Ngân hàng Thế giới (WB) phân chia đường nghèo đói theo hai mức là đường nghèo đói lương thực thực phẩm và đường nghèo đói chung.
Thứ ba là, tiêu chí đánh giá nghèo theo mức chi tiêu tối thiểu cho các nhu cầu cơ bản của con người: Theo tiêu chí này, năm 1997 Ngân hàng thế giới đã đưa ra mức chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương của địa phương so với thế giới để thoả mãn nhu cầu sống, theo đó mức chi tối thiểu tổng quát cho mức nghèo khổ tuyệt đối là 1 USD/người/ngày; mức nghèo là 2 USD/ người/ngày trở xuống cho các nước châu Mỹ Latinh và vùng Caribe; mức 4 USD/người/ngày trở xuống cho những nước Đông Âu. Từ năm 2005, Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã áp dụng mức chuẩn nghèo đối với các nước đang phát triển là 1,25 USD/người/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương thay cho mức chuẩn nghèo trước đó vẫn dùng là mức 1 USD/người/ngày theo mức giá năm 1993. Thứ tư là, tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập bình quân đầu người: Ngân hàng thế giới đã đưa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dưới 370 USD/người/năm. Bên cạnh đó khi sử dụng chỉ tiêu này các quốc gia thường xác định thu nhập bình quân của hộ gia đình so sánh với thu nhập bình quân đầu người của quốc gia.
Hộ có thu nhập bình quân đầu người ít hơn 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân của quốc gia được coi là hộ nghèo. Để xác định được ngưỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề phải xác định được chuẩn mực đói nghèo. Do chuẩn đói nghèo là khái niệm động, nó biến động theo thời gian và không gian nên không thể đưa ra được những chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, mà cần phải có các chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử. Chuẩn nghèo ở Việt Nam Trong thực tế đói nghèo không phải là một khái niệm cố định cho mọi thời kỳ, mọi vùng miền, mọi quốc gia.
Nó là một khái niệm động, do vậy căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu nước ta đã đưa ra chỉ tiêu về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn. Hiện nay chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói nghèo. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Ngoài ra còn một số chỉ tiêu như: Chế độ dinh dưỡng của bữa ăn (kcal/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại.
Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện việc điều tra các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn khác nhau. Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo trong 3 giai đoạn đầu giai đoạn 1993-1994, gia đoạn 1995-1997, giai đoạn 1998-2000 chúng ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng) .1: Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo Dưới 1. Giai đoạn 1993-1994 (Gạo) Dưới mức mức Khu vực nông thôn Kg/người/tháng 8 15 Khu vực thành thị Kg/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995-1997 (Gạo) Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg/người/tháng 13 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg/người/tháng 13 20 Vùng thành thị Kg/người/tháng 13 25 e 9 Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo 3.
Giai đoạn 1998-2000 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 45.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 45.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 45. Giai đoạn 2001-2005 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 80.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 100.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 Khu vực nông thôn Đồng/người/tháng 200.000 Khu vực thành thị Đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 Khu vực nông thôn Đồng/người/tháng 400.000 Khu vực thành thị Đồng/người/tháng 500.
Giai đoạn gần đây nhất theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 đã ban hành tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015. Theo đó, mức chuẩn hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới và đến 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và dưới và đến 500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Vốn Được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại.
Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính.Công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta hiện nay đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định,vốn ngoài nước đóng vai trò chủ đạo. Vốn trong nước bao gồm các tài nguyên thiên nhiên, các tài sản được tích lũy qua nhiều thế hệ, vị trí địa lý,… Việc tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở kết quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế.Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích lũy vốn trong nước.Tín dụng Là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dạng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn 2.Lãi suất Là tỷ lệ tổng số tiền phải trả so với số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định.Lãi suất là giá mà người vay phải trả để sử dụng số tiền không thuộc sở hữu của họ và lợi tức của người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.Hiệu quả kinh tế * Giá trị sản xuất (GO) Là doanh thu (hoặc đầu ra) của từng tác nhân, được tính bằng lượng sản phẩm nhân với đơn giá. Để đơn giản, người ta chỉ xem xét những sản phẩm chính. Trong phân tích ngành hàng, giá trị sản phẩm sẽ được phân tích khác nhau trong phân tích tài chính và phân tích kinh tế.