Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Hiện nay chăn nuôi đang là ngành giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp ở nước ta, song song với việc chăn nuôi gia súc là để lấy thịt, sữa, da, lông… thì chăn nuôi gia cầm cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp những thực phẩm giàu dinh dưỡng, làm phong phú thêm thực đơn trong mỗi bữa ăn. Ngoài ra phát triển chăn nuôi gia cầm còn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các trang trại, hộ gia đình, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở nông thôn và còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, chăn nuôi gà còn tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất cây trồng. Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại Cao Bằng, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao câu, thịt thơm ngon nhưng lại ít người biết đến.
Hiện nay, giống gà này có mặt tai xã Đức Xuân, huyện Hòa An và một vài hộ ở xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và đang được nuôi nghiên cứu ở Thái Nguyên. Gà Cáy Củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’Mông ở vùng sâu, vùng xa, địa hình hẻo lánh. Để chăm sóc tốt giống gà Cáy Củm, tăng số lượng giống gà này thì chúng ta cần biết về đăc tính sinh sản của giống gà này và quy trình phòng trị bệnh để đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt nhất. Người chăn nuôi đã dùng nhiều chế phẩm để tăng hiệu quả chăn nuôi gà Cáy Củm sinh sản.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm bảo tồn nguồn gen, dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Thơm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Tonic vit C trong khẩu phần ăn cho gà cáy củm sinh sản". Mục đích nghiên cứu Đạt được tầm quan trọng của chế phẩm Tonic vit C trong khẩu phần ăn của gà Cáy Củm sinh sản 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài sẽ đóng góp vào nghiên cứu phương thức nuôi dưỡng gà Cáy Củm phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tri thức bản địa của khu vực miền núi. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho người chăn nuôi áp dụng quy trình chăn nuôi đạt hiệu quả cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào vùng cao. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở quan trọng cho việc đánh giá giá trị giống của một giống gà Cáy Củm của nước ta, từ đó làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc bảo tồn giống gà này trong tương lai. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sơ khoa học của đề tài 2.Một số yếu tố ảnh hưởng đến gia cầm 2. Các yếu tố bên trong: - Di truyền Ảnh hưởng của dòng, giống: Khi nói đến sự ảnh hưởng của dòng, giống đến sinh trưởng của gà thì Godfy E. G (1952) [17] cùng nhiều tác giả khác cho rằng có hơn 15 cặp gen quy định tốc độ sinh trưởng. Như vậy đã chứng tỏ sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng do gen di truyền, trong đó có ít nhất 1 gen di truyền liên kết với giới tính.
Theo tài liệu của Chambers. R (1990) [18] thì có nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ. Còn theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [17] thì cho rằng: Sự khác nhau về khối lượng của các giống gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng từ 500 - 700 gam (13 - 30 %).
+ Giống: Khả năng sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào mỗi dòng, giống và mỗi cơ thể. Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sản xuất khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [9] thì sự khác nhau về khối lượng gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng 13- 30 %. Giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng và gà hướng trứng.
Chế độ chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp với tính trạng sinh trưởng ở mỗi giống sẽ khác nhau. + Độ tuổi: Sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào độ tuổi, nó tuân theo quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn. Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều và có tính chu kỳ, gia cầm non có tốc độ sinh trưởng rất cao. h 4 + Tính biệt: Có thể nói rằng: Tính biệt là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khối lượng cơ thể của gà: Gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24 - 32% (Chambers.
Tốc độ sinh trưởng ở động vật nói chung và gia cầm nói riêng còn do tính biệt quy đinh, trong đó con trống quyết định sinh trưởng nhanh hơn con mái. Theo nghiên cứu của các nhà di truyền học về gia cầm, thì thật sự khác nhau về khối lượng giữa con trống và con mái là do gen di truyền liên kết với giới tính quy định ở gà trống hoạt động mạnh hơn ở gà mái. Theo Trần Tuấn Ngọc (1984) [10] thì lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1 %, tuổi càng tăng thì sự sai khác càng lớn. ở 2 tuần tuổi hơn 5 %, 3 tuần tuổi 11 % và ở 8 tuần tuổi sự sai khác giữa gà trống và gà mái là 27 %.
Tính biệt là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khối lượngcơ thểcủagà:Gàtrốngnặnghơngàmáitừ24-32 %.Nhữngsaikhácnàycũng được biểu hiện ở cường độ sinh trưởng, được quy định không phải dohoocmon sinh học mà do các gen liên kết với giới tính. Tuy nhiên, sự sai khác về mặtsinh trưởngcònthểhiệnrõhơnđốivớicácdòngpháttriểnnhanhsovớicácdòng phát triển chậm (Chambers J. + Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông Nhữngkếtquảnghiêncứucủanhiềunhàkhoahọcxácđịnhtrongcùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ sinhtrưởng, phát triển cao hơn gà mọc lông chậm. F, (1974) [19] cho rằng tốcđộ mọclôngcóquanhệchặtchẽtớitốcđộsinhtrưởng,thườnggàlớnnhanhthì mọclôngnhanhvàđềuhơnởgàchậmmọclông.Fvàcs, (1970) [20] đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trốngvà tác giả h 5 cho rằng ảnh hưởng của hoocmon sinh trưởng có tác dụng ngượcchiều với giới tính quy định tốc độ mọclông.
+ Dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố có tác động mạnh đến tốc độ sinh trưởng cũng như lượng thịt, trứng gia cầm. Chúng trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vì vậy nghiên cứu chế độ dinh dưỡng hợp lý cho gia cầm là việc làm cần thiết có ý nghĩa thiết thực. A và cs, (1979) [21] cho biết: Dinh dưỡng khôngchỉ cầnthiếtchosinhtrưởngmàcòncầnthiếtđểthểhiệnkhảnăngditruyềncủa sinh trưởng. Gà broiler phát triển mạnh nên đòi hỏi lượng thức ăn tương ứngđể phát huy tiềm năng di truyền của chúng.
Chi phí thức ăn chiếm 70 % giá thànhgà broiler, do vậy để có năng suất cao trong chăn nuôi gia cầm - đặc biệt pháthuy tiềm năng sinh trưởng, thì một trong những vấn đề căn bản là lập ra nhữngkhẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầmqua từng giai đoạnnuôi. Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [11] cho biếtnhu cầuproteinthíchhợpchogàbroilerchonăngsuấtcaođãđượcxácđịnh.Để pháthuyđượckhảnăngsinhtrưởngtốiđacầnphảicungcấpđầyđủcácchất dinhdưỡngvớisựcânbằngnghiêmngặtgiữaprotein,axitaminvớinănglượng. Dinh dưỡng cho gà thịt bao gồm: Protein, gluxit, lipit, muối khoáng, vitamin và chất xơ. Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [11] cho rằng để phát huy tối đa khả năng sinh trưởng của gia cầm thì việc cung cấp thức ăn đầy đủ và tối ưu các chất dinh dưỡng, cân bằng protein, các axit amin và năng lượng là điều tối cần thiết.
+ Ảnh hưởng của protein: Protein là chất cần thiết trong khẩu phần thức ăn cho gà. Ta cần phải cung cấp đủ protein và cân bằng các axit amin thiết yếu trong khẩu phần. Nếu thiếu và không cân bằng dẫn đến hậu quả gà chậm h 6 lớn, còi cọc, dễ sinh bệnh. Mặt khác ta phải phối hợp các nguyên liệu giàu protein có nguồn gốc thực vật và động vật trong khẩu phần ăn như: bột cá, bột thịt, bột muối, khô dầu đậu tương, khô dầu mè… TheoTrầnCôngXuân (1995)[13]chobiếtcùngtổhợplaibroiler:Ross 208,Ross208-V35nuôiở9lôvới3mứcnănglượngvà3mứcprotein,cho khốilượngở8tuầntuổikhácnhaurõrệt.
+ Ảnh hưởng của gluxit: Gluxit là chất chủ yếu sinh năng lượng, đảm bảo cho các hoạt động sống diễn gia bình thường, phải cung cấp đầy đủ cho gà để giúp quá trình sinh trưởng diễn ra bình thường. Nếu thừa gluxit trong khẩu phần ăn của gà sẽ dẫn đến hiệu suất tiêu hóa thức ăn thấp và dễ mắc bệnh ỉa chảy. Nếu thiếu gluxit thì cơ thể sẽ huy động lượng gluxit dự trữ dạng mỡ và một phần trong gan làm cho quá trình trao đổi chất giảm, gà còi cọc. + Ảnh hưởng của lipit: Lipit là một chất được cấu tạo chủ yếu bởi các axit béo.
Nó có tác dụng chủ yếu tham gia cấu tạo mô đệm, cách nhiệt, dung môi hòa tan một số vitamin: A, D, E, K, cung cấp nước nội sinh và là nơi dự trữ năng lượng chủ yếu dưới dạng mỡ cho cơ thể gà. + Ảnh hưởng của năng lượng: Nhu cầu năng lượng cho gà sinh trưởng bao gồm năng lượng cho duy trì và năng lượng cho tăng trọng. Deaton và Fallie (1973 - 1974) [22] đã nghiên cứu về các mức năng lượng khác nhau, trong thức ăn của gà và đưa ra kết luận rằng mức năng lượng tối ưu cho gà thịt là 3000 - 3200 kcal/kg thức ăn. + Ảnh hưởng của chất khoáng và vitamin: Khoáng đa lượng (Ca, P, Na, Cl) có nhiều trong bột xương, bột cá… Cùng khoáng vi lượng (Fe, Cu, Co, Mn, I…) có nhiều trong bột máu, bột cá… Các nguyên tố khoáng là các nguyên liệu xây dựng nên bộ xương tham gia cấu trúc tế bào và tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể.
Việc cung cấp đầy đủ chất khoáng giúp cho gà sinh trưởng và phát triển bình thường. Vitamin tham gia vào mọi hoạt h 7 động sinh lý, sinh hóa trong cơ thể và đóng vai trò là chất xúc tác, kích thích. Nhu cầu về các loại vitamin ở gà không giống nhau, đối với gà con cần các loại như: A, D3, E, K, B1, B3, B6, B12, PP và cholin đối với gà đẻ cần các loại vitamin: A, D, E và cholin. + Ảnh hưởng của yếu tố nước: Trong cơ thể nước chiếm 70% khối lượng cơ thể, thiếu nước 1 - 2 ngày gà có thể bị chết.
Nhiệt độ môi trường cao gà cần một lượng nước nhiều hơn bình thường, ở 220C gà cần một lượng nước gấp 1,5 - 2 lần lượng thức ăn.