ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gia cầm nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung. Bên cạnh chăn nuôi gà truyền thống, chăn nuôi gà công nghiệp ở nước ta hiện nay đang phát triển khá nhanh, cung cấp cho con người các sản phầm thịt và trứng, đây là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn của xã hội. Với những thuận lợi về công tác nghiên cứu và những tiến bộ kĩ thuật ngày càng phát triển, các giống gà cao sản với năng suất cao đã ra đời, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng được hoàn thiện, quy trình phòng trị bệnh ngày chặt chẽ, công tác thú y được chú ý hơn. Đây là nền tảng và điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gia cầm phát triển cả ở hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, muốn cho ngành chăn nuôi gia cầm phát triển nhanh và bền vững thì phải tiến hành đồng thời các biện pháp kĩ thuật với chăm sóc nuôi dưỡng nhằm tăng tỷ lệ nuôi sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất và sức đề kháng cho đàn gia cầm. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thức ăn hỗn hợp đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm, nhưng trong quá trình chế biến hay bảo quản, sử dụng đã làm mất hoặc giảm đi một lượng nhất định, đặc biệt là vitamin là loại hợp chất dễ biến đổi. Chính vì vậy, việc bổ sung vitamin là rất cần thiết trong chăn nuôi gia cầm, trong đó có việc bổ sung vitamin C. Theo các nhà khoa học thì vitamin C là yếu tố giúp nâng cao khả năng sản xuất của gia cầm, nâng cao khối lượng sống của gà con và sức đề kháng của gia cầm.
Ngoài ra vitamin C còn ảnh hưởng đến quá trình hấp thu canxi của cơ thể, nhất là ở gà con và gà đẻ vì cơ thể chúng không có khả năng tổng hợp đủ nhu cầu về vitamin C. n 15 Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin C đến năng suất và chất lượng trứng gà HA (3/4 Ai Cập 1/4 Hyline) nuôi tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Sức đẻ trứng và các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm * Sức đẻ trứng của gia cầm Sức đẻ trứng là chỉ tiêu chủ yếu của gia cầm hướng trứng và là chỉ tiêu quan trọng của gia cầm hướng thịt hoặc kiêm dụng. Sức đẻ trứng là đặc điểm phức tạp và biến đổi, nó được xác định qua tổng hợp các nhân tố bên trong và ngoài. Sức đẻ trứng chịu sự chi phối của tập hợp các gen khác nhau, nó dao động trong khoảng từ đơn vị tới hàng trăm trong một năm đẻ. Theo Brandsch và Bilchel (1978) [21] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính: + Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục + Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng + Tần số thể hiện bản năng đòi ấp + Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông + Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ).
Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [6], mặc dù số lượng tế bào trứng tới 400 (quan sát bằng mắt thường) và hơn 12.000 (quan sát bằng kính hiển vi), nhưng trên thực tế, sức đẻ trứng thấp hơn nhiều so với số lượng tế bào trứng trong buồng trứng. Chu kỳ đẻ trứng sinh học được tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên tới khi ngừng đẻ và thay lông. Chu kỳ thứ hai bắt đầu từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại (sau khi thay lông) tới khi ngừng đẻ và thay lông lần hai.
Cứ như thế có thể xác định tiếp tục các chu kỳ tiếp theo. Ở cơ sở sản xuất gà công n 16 nghiệp, việc sử dụng gà đẻ thương phẩm chỉ giới hạn ở chu kỳ đẻ trứng sinh học thứ nhất. Còn đối với gà bố mẹ người ta mới sử dụng tiếp nữa. Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với sản lượng trứng của gia cầm.
Nếu thời gian chu kỳ đẻ trứng sinh học càng dài thì sản lượng trứng càng cao. Cường độ đẻ trứng được biểu thị qua số trứng đẻ ra trong một khoảng thời gian xác định không kể đến chu kỳ hay nhịp đẻ. Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường. Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng.
Chu kỳ đẻ dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng. Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ. Giữa các chu kỳ đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền và ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau.
Điều này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng,. Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ vào mùa đông do nguyên nhân giảm dần về thời gian và cường độ chiếu sáng tự nhiên. Ngoài ra sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chuyển đàn.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài. Sức sản xuất trứng phụ thuộc và liên quan trực tiếp với giống, dòng gia cầm, sự phát triển, tuổi, độ béo, trạng thái sức khỏe, trọng lượng sống, sự thay lông và bản tính ấp bóng, độ thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và nhịp độ đẻ trứng. Nó còn phụ thuộc vào đặc điểm di truyền và chọn lọc, thức ăn và dinh dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chăm sóc và quản lý của con người. Giống, dòng ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng một cách trực tiếp.
Những dòng, giống gia cầm khác nhau có khả năng sản xuất trứng khác nhau, ví dụ như giống gà Leghorn có sản lượng trứng trung bình là 250 - 270 quả/mái/năm, trong khi gà Ri chỉ đạt 90 - 100 quả/mái/năm. n 17 Tuổi gia cầm liên quan chặt chẽ với sức đẻ của nó. Theo quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm từ 15 - 20% so với năm thứ nhất. Nhưng ở một số thủy cầm như vịt, ngỗng thì đạt đỉnh cao ở năm thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần theo tuổi.
Độ béo, trạng thái sức khỏe liên quan chặt chẽ với sức sản xuất trứng. Nếu gia cầm quá béo sẽ làm ức chế sự phát triển của buồng trứng và giảm các lượng kích tố sinh dục khiến cho sản lượng trứng giảm. Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó là đặc điểm di truyền cá thể. Tuổi thành thục sinh dục của cá thể được xác định qua tuổi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên.
Tuổi thành thục sinh dục của một nhóm hoặc một đàn được xác định theo tuổi đạt tới cường độ đẻ trứng là 50%. Nói chung tuổi thành thục sinh dục của gà dao động trong khoảng 150 đến 190 ngày. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của gia cầm như: Loài, loại hình, giống, dòng, mùa vụ nở, thức ăn, chăm sóc. Mùa vụ ảnh hưởng tới sức đẻ trứng rất rõ rệt.
Ở nước ta, nhiệt độ thích hợp đối với gia cầm đẻ là 14 - 220C. Nếu nhiệt độ môi trường xuống dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng để chống rét, trên giới hạn cao thì phải thải nhiệt nhiều. Ánh sáng được xác định qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng. Yêu cầu đối với gà đẻ thời gian chiếu sáng mỗi ngày là 12 - 14 giờ với cường độ trung bình chiếu sáng ban ngày.
Theo Nguyễn Thị Mai và cs (2009) [16] võng mạc và não bộ của gia cầm rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng. Cơ chế dẫn truyền kích thích của ánh sáng là cơ chế thần kinh - thể dịch mà tuyến yên là trung tâm truyền dẫn, chỉ những ánh sáng có bước sóng dài mới đi qua được. Vì vậy, muốn kích thích cơ quan sinh dục, cần sử dụng ánh sáng ấm với nhiều màu đỏ và cam. Nếu muốn kích thích gà ăn nhiều, hoạt động tìm ổ đẻ hiệu quả, tránh đẻ rơi trứng trên sàn đối với gà đẻ thì nên sử dụng ánh sáng trắng lạnh với nhiều màu xanh.
Cần tăng cường ánh sáng đỏ đối với gà mái đẻ nhất là giai đoạn chuẩn bị vào đẻ (giai đoạn tiền đẻ trứng). Yêu cầu của gà đẻ về thời gian chiếu sáng là từ 12 - 16 giờ/ngày, cường độ chiếu sáng 10,8 lux đủ cho năng suất trứng cao nhất. Trong chăn nuôi gà đẻ, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo để chiếu sáng cho gà với cường độ chiếu sáng từ 3 - 3,5 W/m2 (Ron Meijerhof, 2006) [31]. n 18 Cường độ đẻ trứng liên quan mật thiết với sản lượng trứng, nếu cường độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại.
Cường độ đẻ trứng của gà phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng, cường độ đẻ trứng cao nhất vào khoảng 8 - 12 giờ, chiếm hơn 60% số con đẻ trong ngày và ở vịt cũng đẻ sớm hơn, từ 0 - 4 giờ, sau 4 giờ (về mùa hè) số con đẻ rất ít. Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học. Chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng. Thay lông: Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm nghỉ đẻ và thay lông.
Ở điều kiện bình thường, lần thay lông đầu tiên là những điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu. Những con thay lông sớm là những con đẻ kém và kéo dài thời gian thay lông tới 4 tháng. Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng. Đặc biệt, ở một số cá thể hoặc đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ khoảng 4 - 5 tuần, có những cá thể đẻ ngay khi chưa hình thành xong bộ lông mới hay đẻ ngay cả trong thời gian nghỉ thay lông.