Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc tra mắt atropin 0 01 đối với sự tiến triển cận thị của học sinh một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố cần thơ

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả thuốc tra mắt atropin 0.01 trong kiểm soát tiến triển cận thị ở học sinh tiểu học và THCS tại Cần Thơ.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhãn khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2013-2014

172
11
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. CƠ SỞ PHÁT SINH TẬT KHÚC XẠ

1.2. TÌNH HÌNH CẬN THỊ VÀ SỰ TIẾN TRIỂN CỦA CẬN THỊ

1.3. CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP HẠN CHẾ SỰ TIẾN TRIỂN CẬN THỊ

1.4. SỬ DỤNG THUỐC NHỎ MẮT ATROPIN 0,01%

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.4. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM TẬT CẬN THỊ CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA THUỐC NHỎ MẮT ATROPIN 0,01%

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM TẬT CẬN THỊ CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA THUỐC NHỎ MẮT ATROPIN 0,01%

ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá hiệu quả của thuốc tra mắt Atropin 0.01% trong việc kiểm soát cận thịhọc sinh tiểu họctrung học cơ sở tại Cần Thơ. Cận thị học sinh đang trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt ở các nước châu Á, với tỷ lệ mắc cao và xu hướng tiến triển nhanh. Atropin 0.01% được xem là một giải pháp tiềm năng nhờ khả năng làm chậm sự tiến triển của cận thị mà không gây ra nhiều tác dụng phụ.

1.1. Tình hình cận thị học sinh tại Cần Thơ

Cận thị học sinh tại Cần Thơ đang gia tăng do sự thay đổi lối sống và môi trường học tập. Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở dao động từ 20% đến 40%. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các biện pháp phòng ngừa cận thịđiều trị cận thị hiệu quả.

1.2. Vai trò của Atropin 0.01 trong kiểm soát cận thị

Atropin 0.01% là một thuốc nhỏ mắt được sử dụng rộng rãi trong điều trị cận thị nhờ khả năng ức chế sự phát triển của trục nhãn cầu. Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh hiệu quả của Atropin liều thấp trong việc làm chậm tiến triển cận thị mà không gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng như lóa mắt hoặc viêm kết mạc.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng nghiên cứu lâm sàng với sự tham gia của học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại Cần Thơ. Atropin 0.01% được sử dụng hàng ngày trong vòng 24 tháng. Các chỉ số như độ cận thị, chiều dài trục nhãn cầu và thị lực được đo lường định kỳ để đánh giá hiệu quả điều trị.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) với hai nhóm: nhóm sử dụng Atropin 0.01% và nhóm đối chứng. Các chỉ số được đo lường bao gồm độ cận thị, chiều dài trục nhãn cầu và thị lực nhìn xa/nhìn gần.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ 6 đến 15 tuổi, được chẩn đoán cận thị từ nhẹ đến trung bình. Các yếu tố như thời gian sử dụng mắt nhìn gần và hoạt động ngoài trời cũng được ghi nhận để phân tích.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy Atropin 0.01% có hiệu quả rõ rệt trong việc làm chậm tiến triển cận thị. Sau 24 tháng, nhóm sử dụng Atropin 0.01% có mức độ tiến triển cận thị thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng. Hiệu quả điều trị được thể hiện qua sự giảm thiểu tăng độ cận thị và chiều dài trục nhãn cầu.

3.1. Hiệu quả của Atropin 0.01

Nhóm sử dụng Atropin 0.01% có mức độ tiến triển cận thị trung bình là 0.25 Diop/năm, trong khi nhóm đối chứng là 0.75 Diop/năm. Điều này khẳng định hiệu quả điều trị của Atropin liều thấp trong kiểm soát cận thị.

3.2. Tác dụng phụ và tuân thủ điều trị

Các tác dụng phụ như lóa mắt và viêm kết mạc được ghi nhận ở mức độ nhẹ và không ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Tỷ lệ tuân thủ điều trị cao, đạt trên 90%, cho thấy tính khả thi của việc sử dụng Atropin 0.01% trong thực tế.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu khẳng định Atropin 0.01% là một phương pháp hiệu quả và an toàn trong kiểm soát cận thị ở học sinh tại Cần Thơ. Việc áp dụng rộng rãi thuốc nhỏ mắt Atropin 0.01% có thể góp phần giảm thiểu tỷ lệ cận thị và các biến chứng liên quan.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học cho việc sử dụng Atropin 0.01% trong phòng ngừa cận thịđiều trị cận thị ở học sinh. Đây là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra các biện pháp can thiệp hiệu quả.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu dài hạn để đánh giá hiệu quả của Atropin 0.01% trên các nhóm tuổi khác và trong các điều kiện môi trường khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu về các phương pháp kết hợp để tối ưu hóa hiệu quả điều trị cũng là hướng đi tiềm năng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc tra mắt atropin 0 01 đối với sự tiến triển cận thị của học sinh một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. CƠ SỞ PHÁT SINH TẬT KHÚC XẠ 1. Quá trình chính thị hóa Trong suốt quá trình phát triển bình thường của mắt, trục nhãn cầu phải phù hợp với công suất khúc xạ để đảm bảo hình ảnh võng mạc được hội tụ chính xác. Nếu mắt phát triển quá nhanh, hình ảnh nằm phía trước võng mạc, hậu quả là sự phát triển của mắt có khuynh hướng chậm lại.

Nếu mắt phát triển quá chậm, hình ảnh nằm về phía sau và mắt sẽ có khuynh hướng phát triển nhanh hơn. Quá trình sinh học liên tục này nhằm đảm bảo cân bằng công suất khúc xạ và phát triển chiều dài trục nhãn cầu gọi là quá trình chính thị hóa (Emmetropization) (Yackle và Fitzgerald (1999). Quá trình chính thị hóa xảy ra vào 18 tháng đầu tiên (82% trẻ vào lúc 12 tháng tuổi), chính thị đạt được vào độ tuổi 9 - 14 và không có sự thay đổi khúc xạ trên mắt bình thường sau 16 tuổi. Hai thuyết đối nghịch nhau là cơ chế chủ động (feedback thị giác) và thụ động (sự phát triển được xác định trước).

Theo Saunders (1994) thì chính thị phối hợp cả quá trình thụ động và chủ động. - Quá trình thụ động: quyết định bởi gen và yếu tố thể chất. Công suất khúc xạ (dioptric) giảm, tỷ lệ với sự gia tăng của kích thước trục. Khi sự thay đổi này không tỷ lệ với nhau, bất chính thị phát triển.

Trẻ cận thị có thể thủy tinh mỏng hơn bình thường, điều này cho thấy quan hệ cơ học giữa sự phát triển của mắt và sự bù trừ của thể thủy tinh. Điều này cho thấy đây là quá trình feedback không phải do thị giác. - Quá trình chủ động: quyết định bởi hình ảnh võng mạc. Mắt phân tích số lượng hình ảnh mờ trên võng mạc và kéo dài trục nhãn cầu cho đến khi hình ảnh trên võng mạc rõ nét.

Đây là cơ chế feedback thị giác từ hình ảnh võng mạc. Có nhiều bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết này như hiện tượng các bệnh lý đục giác mạc, đục thể thủy tinh, hẹp khe mi, xuất huyết dịch kính và bệnh lý võng mạc trẻ sinh non (Retinopathy of Prematurity (ROP) làm cho mắt kéo dài ra. Một nghiên 4 cứu trên trẻ sinh đôi cho thấy mắt bị đục môi trường quang học một bên sẽ có trục nhãn cầu dài hơn mắt lành 2 mm, tương đương 6 D. Kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng quá trình kiểm soát chính thị hóa này nằm ở vùng ngoại biên của mắt (Wildsoet (1988), Wallman (1997), Smith (2009)…) cho thấy ngay cả khi cắt thần kinh thị, sự phát triển của mắt vẫn tiếp tục tại vùng kích thích trên võng mạc.

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự thay đổi tương phản hình ảnh võng mạc, ví dụ như che, hoặc dùng thấu kính làm lệch tiêu tại 1 vùng võng mạc khu trú, tác động lên sự phát triển nhãn cầu chỉ duy nhất tại vùng đó (Wildsoet (1998), Smith (2009). Lệch tiêu cận thị và viễn thị (nguồn:Hung, 2010 [8]) 1. Mô hình thực nghiệm Wiesel (1977) nhận thấy khâu mắt khỉ gây ra cận thị. Kết quả quan trọng này thúc đẩy nghiên cứu thực nghiệm trên một số loài để tìm hiểu bản chất quang học và sinh học của cận thị.

Giữa thập niên 1970, nhiều mô hình động vật đã được phát triển (Sherman (1977), Wallman (1978)…) với việc tìm ra có 3 loài đóng vai trò quan trọng [9]. Đối tượng thực nghiệm Young (1961) nhận thấy cận thị ở khỉ gia tăng trong môi trường không gian bị giới hạn. Loại gặm nhấm như chuột ít biến dị và có độ khúc xạ lớn, phát triển cận thị nhanh, chỉ 12 - 14 ngày. Cấu trúc củng mạc và các nguyên bào sợi có tất cả năm loại thụ thể muscarinic như người.

Gà nuôi là mô hình thông dụng nhất, giá rẻ và sẵn có [10]. Có thể gây độ khúc xạ -5 D tới -10 D trong 5 - 7 ngày, trong tự nhiên không phát triển cận thị. Mô hình Cận thị do ức chế thị giác (Form - deprivation Myopia ) (FDM): sử dụng kính che mờ trên mắt động vật, làm cường độ ánh sáng, chi tiết vật và độ tương phản giảm. Thị giác không bị che hoàn toàn.

Mắt sẽ dừng phát triển đến khi kính mờ được tháo bỏ. Cận thị do mang kính phân kỳ (Negative lens - Induces Myopia) (LIM): mắt sẽ phát triển đến kích thước phù hợp độ khúc xạ gây ra bởi kính. Theo Irving (1992), Smith (1999), mô hình LIM cho thấy tính tương quan rất chặt giữa chiều dài và công suất kính, ví dụ gà được mang kính -7 D trong 10 ngày sẽ có độ khúc xạ -10 D khi bỏ kính ra. Cơ chế bệnh sinh 2 cơ chế phát sinh cận thị: * Thuyết điều tiết non độ (Accommodative lag theory): thuyết này dựa trên giả thiết là ảnh võng mạc mờ ở mắt viễn thị do điều tiết non độ trong các hoạt động nhìn gần là nguyên nhân gây ra sự phát triển bất thường của trục nhãn cầu.

Cơ sở của thuyết này là các mắt cận thị có đáp ứng điều tiết yếu hơn so với mắt chính thị, Do đó khi ảnh võng mạc mờ thì đáp ứng điều tiết của mắt không đủ để cho nhìn rõ. Vai trò của lệch tiêu viễn thị được xác nhận bởi quan sát rằng những mắt của động vật còn nhỏ khi cho đeo kính trừ thì mắt đáp ứng bằng sự dài ra nhanh hơn của trục nhãn cầu. Tuy nhiên, các giai đoạn ngắn mắt nhìn rõ (khi nhìn vật ở xa) sẽ khử hoàn toàn tín hiệu “tăng chiều dài trục nhãn cầu” (“grow signal”) gây ra bởi ảnh võng mạc mờ ở mắt viễn thị khi nhìn gần. Những kết quả nghiên cứu ở động vật đã cho thấy là lệch tiêu viễn thị do điều tiết non độ trong khi làm việc nhìn gần chưa chắc đã phải là yếu tố làm tăng trục nhãn cầu.

Ngoài ra các ý kiến còn chưa thống nhất là lệch tiêu viễn thị có xảy ra trước khi xuất hiện cận thị không và điều tiết non độ có liên quan đến sự tiến triển cận thị hay không. Lệch tiêu viễn thị * Thuyết sức căng cơ học (mechanical tension theory): Thuyết này được đưa ra dựa vào dữ liệu về sự phát triển của nhãn cầu ở trẻ chính thị và viễn thị. Thuyết này khẳng định rằng sức căng cơ học tạo ra bởi thể thủy tinh hoặc thể mi làm hạn chế sự giãn ra của nhãn cầu ở vùng xích đạo, làm cho trục nhãn cầu dài ra nhiều hơn. Thuyết này cho rằng có nhiều yếu tố làm cho kích thước nhãn cầu lớn hơn bình thường ở những trẻ có nguy cơ cận thị.

Sức căng thể mi-hắc mạc ở phần trước nhãn cầu đạt đến điểm tới hạn mà nhãn cầu không thể giãn ra tương ứng trong quá trình phát triển của mắt. Cận thị xảy ra do sự dài ra quá mức không thể bù trừ được, vì thể thủy tinh không thể giảm công suất hơn nữa bằng cách dẹt hơn và căng ra hơn. Một hậu quả khác của sự đạt điểm tới hạn là sức căng dẫn đến tăng lực điều tiết cần thiết, do đó làm cho điều tiết non độ và tỉ số AC/A càng tăng thêm. Theo thuyết này thì điều tiết non độ chỉ là một sản phẩm phụ của cận thị và nó liên quan với tiến triển cận thị nhưng không phải là nguyên nhân của tiến triển cận thị [11].

Thuyết này cũng phù hợp với sự biến dạng nhãn cầu xảy ra ở mắt cận thị. Thuyết sức căng cơ học và điều tiết non độ (Berntsen, 2010 [11]) Như vậy, hiện nay có 2 thuyết về cơ chế phát sinh cận thị, đưa đến việc giải thích và hướng điều trị cận thị cũng khác nhau. Các yếu tố nguy cơ mắc tật khúc xạ Nguyên nhân phát sinh cận thị là sự kết hợp nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó quan trọng nhất là yếu tố gen và yếu tố môi trường. Nói một cách khác, hiện tại có 2 thuyết: thuyết sử dụng và lạm dụng - sự căng thẳng điều tiết (The use and abuse theory - accomadative stress) và thuyết sinh học về cận thị (The biological theory of myopia).

Yếu tố di truyền Độ dài trục nhãn cầu góp phần lớn nhất quyết định tật khúc xạ. Tính di truyền đối với độ dài trục khoảng từ 40% tới 94%, độ sâu tiền phòng từ 70% - 94%, độ dày của thể thủy tinh từ 90,3% tới 93% (Lyhne, 2001). Cá nhân có gen có khuynh hướng phát sinh cận thị khi tiếp xúc yếu tố môi trường nào đó. 8 - Yếu tố chủng tộc Khảo sát xem xét dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia (The National Health and Nutrition Examination Survey (NHANES) (1971 - 1972) cho thấy tỷ lệ cận thị cao ở nữ và người da trắng.

Các tác giả Wang (1994), Rajan (1994) cho kết quả tương tự. Người châu Á và người Do Thái có tỷ lệ cận thị cao. Tại Đài Loan, tỷ lệ cận thị ở người bản địa là 13% so với 30% ở người Trung quốc [13]. Chủng tộc thể hiện về cấu trúc gen và thể hiện tính nhạy cảm mạnh đối với bệnh nào đó (Mann, 1966).

- Tiền sử gia đình Nghiên cứu về di truyền tiến hành chủ yếu trên các trẻ sinh đôi, phả hệ và gia đình. Sorby (1996) và Keller (1973) cho thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa cha mẹ và trẻ. Zadnik (1994) nhận thấy học sinh cận thị có cha mẹ cận thị thì trục nhãn cầu dài hơn, gợi ý cho một khả năng di truyền. Cả hai cha mẹ bị cận thị thì 33 - 60% trẻ cận thị, nếu 1 trong hai cha mẹ cận thị thì có 23 - 40% trẻ cận thị, không có ai trong cha mẹ cận thị thì chỉ có 6 - 15%.

Wedner (2002), Mehdizadeh (2006), Khader (2006) [14]…cũng cho kết quả tương tự. Sự khác nhau về tỷ lệ cận thị liên quan đến cận thị cha mẹ có thể biểu hiện ngay trong những năm đầu đi học [13] [15]. Vai trò của di truyền được thừa nhận ở cận thị nặng. Ashton (1985) nhận thấy trẻ cận thị dưới 1 D có 15% cha mẹ bị cận thị, trẻ cận thị nặng hơn 7 D có 55% cha, mẹ bị cận thị.

Nghiên cứu trẻ sinh đôi không xác định được mô hình di truyền nhưng cung cấp bằng chứng cận thị có thể di truyền. Trong một nghiên cứu các cặp sinh đôi 9 cùng trứng có thói quen nhìn gần gần giống nhau (khác nhau ít hơn 1 giờ/ ngày về học tập và đọc) so với các cặp sinh đôi cùng trứng (79,3%) có thói quen không giống nhau, các tác giả cho thấy sự kết hợp tăng thêm có ý nghĩa giữa sinh đôi cùng trứng với công việc nhìn gần [16]. Yếu tố môi trường Tỷ lệ cận thị khác nhau giữa các vùng, các quốc gia và giữa các thế hệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh giá hiệu quả thuốc tra mắt Atropin 0.01% trong kiểm soát cận thị học sinh tại Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng thuốc Atropin 0.01% trong việc kiểm soát cận thị ở học sinh. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá hiệu quả của thuốc mà còn phân tích các tác động tích cực đến sự phát triển thị lực của trẻ em. Một trong những điểm nổi bật là khả năng giảm tốc độ tiến triển của cận thị, giúp học sinh có cơ hội cải thiện chất lượng cuộc sống và học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về tình trạng cận thị ở trẻ em, bạn có thể tham khảo tài liệu "Khóa luận tốt nghiệp đánh giá tình trạng cận thị ở trẻ em và việc điều chỉnh kính". Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các giải pháp điều chỉnh kính và tình trạng cận thị hiện tại, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.