Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh chóng tại các đô thị vệ tinh đang tạo ra áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất rất lớn, làm suy giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp. Tại thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tổng diện tích tự nhiên đạt 6.390,31 ha, trong đó tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 32,8% tổng nguồn nhân lực địa phương. Mặc dù cơ cấu kinh tế năm 2016 ghi nhận tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm ưu thế tuyệt đối với 73,8%, dịch vụ - thương mại chiếm 24,5% và nông - lâm - thủy sản chỉ còn 1,7%, song sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò thiết yếu trong việc ổn định sinh kế nông thôn và bảo vệ cân bằng sinh thái.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để khai thác tối ưu quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, vừa nâng cao thu nhập cho người dân vừa giảm thiểu rủi ro ô nhiễm môi trường do các khu công nghiệp xi măng, luyện kim gây ra. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất (LUT), từ đó xây dựng cơ sở khoa học để lựa chọn cơ cấu cây trồng triển vọng và định hướng quy hoạch đất nông nghiệp bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn thị xã Bỉm Sơn trong giai đoạn thu thập dữ liệu từ năm 2014 đến năm 2016, với trọng tâm khảo sát thực địa trong năm 2016 - 2017. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống chỉ số định lượng giúp nâng cao thu nhập hỗn hợp đạt trên 150 triệu đồng/ha/năm, gia tăng giá trị ngày công vượt mức 250.000 đồng/công và kiểm soát các chỉ tiêu môi trường đất, nước tưới theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hệ thống và khung hướng dẫn đánh giá đất đai của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1976; 1990). Đồng thời, đề tài tích hợp chặt chẽ 5 nguyên tắc cốt lõi về sử dụng đất bền vững theo FAO (1991, 1994), bao gồm: duy trì nâng cao sản lượng, giảm thiểu rủi ro sản xuất, bảo vệ tài nguyên ngăn chặn thoái hóa đất, đảm bảo hiệu quả kinh tế lâu bền và đạt được tính chấp thuận của cộng đồng xã hội. Ngoài ra, nghiên cứu vận dụng học thuyết địa tô và lý thuyết kinh tế tài nguyên của Các Mác về bản chất đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, đòi hỏi quá trình canh tác phải tuân thủ quy luật tiết kiệm thời gian và hoàn trả độ phì nhiêu.

Khung phân tích của luận văn vận hành thông qua các khái niệm học thuật cơ bản:

  • Đất sản xuất nông nghiệp: Quỹ đất phục vụ trồng trọt cây hàng năm và cây lâu năm.
  • Loại hình sử dụng đất (LUT): Phương thức khai thác đất đai theo các công thức luân canh hoặc độc canh cụ thể trong điều kiện kỹ thuật và kinh tế - xã hội xác định.
  • Hiệu quả kinh tế: Xác định qua giá trị sản xuất (GTSX), chi phí trung gian (CPTG), thu nhập hỗn hợp (TNHH), hiệu quả đồng vốn (HQĐV) và giá trị ngày công lao động (GTNC).
  • Hiệu quả xã hội: Đo lường qua mức độ chấp nhận của hộ dân, khả năng tạo việc làm và tỷ lệ tiêu thụ nông sản.
  • Hiệu quả môi trường: Đánh giá qua mức độ cân đối phân bón, thực trạng dùng thuốc bảo vệ thực vật và khả năng bảo vệ, chống xói mòn đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa thông tin thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Chi cục Thống kê thị xã Bỉm Sơn và Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2014 - 2016. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) với phiếu khảo sát bán cấu trúc.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định gồm 90 nông hộ. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo đặc trưng địa mạo của thị xã: 30 hộ tại phường Bắc Sơn (đại diện cho vùng đồi núi, đất xám feralit), 30 hộ tại phường Lam Sơn và 30 hộ tại xã Hà Lan (đại diện cho vùng đồng bằng bằng phẳng, đất phù sa và đất glây). Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp tại địa phương.

Phương pháp phân tích chủ đạo là cho điểm đa tiêu chí theo hướng dẫn của FAO kết hợp xử lý thống kê bằng phần mềm Excel. Mỗi loại hình sử dụng đất được chấm điểm dựa trên 9 chỉ tiêu thuộc 3 nhóm (Kinh tế, Xã hội, Môi trường). Mỗi chỉ tiêu phân thành 3 cấp (Cao: 3 điểm, Trung bình: 2 điểm, Thấp: 1 điểm), tạo nên thang điểm tổng hợp tối đa 27 điểm. Lý do lựa chọn phương pháp này là khả năng định lượng hóa đồng thời các yếu tố kinh tế tài chính và các khía cạnh định tính về xã hội, môi trường, giúp so sánh trực quan, khách quan giữa các công thức luân canh. Toàn bộ quy trình điều tra và xử lý dữ liệu được tiến hành từ tháng 4/2016 đến tháng 8/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hiện trạng tài nguyên đất đai năm 2016 xác định thị xã Bỉm Sơn có 4 nhóm đất chính với 7 đơn vị đất:

  • Nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với 1.434,97 ha (tương đương 44,39% diện tích đất nông nghiệp), phân bố tập trung tại Bắc Sơn, Ba Đình, Ngọc Trạo.
  • Nhóm đất phù sa có 662,78 ha (chiếm 20,50%), tập trung tại Phú Sơn, Lam Sơn, Hà Lan.
  • Nhóm đất đỏ đạt 613,45 ha (chiếm 18,98%), phân bố ở Bắc Sơn và Đông Sơn.
  • Nhóm đất glây đạt 521,32 ha (chiếm 16,13%), tập trung ở vùng trũng Lam Sơn, Ba Đình.

Đánh giá tổng hợp 12 kiểu sử dụng đất nông nghiệp chính trên địa bàn cho thấy sự phân hóa hiệu quả rất rõ nét:

  • Nhóm hiệu quả cao (đạt 21 - 27 điểm): Có 6/12 kiểu sử dụng đất (chiếm 50%), gồm: Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai lang; Đậu tương - Lúa mùa - Khoai lang; Lạc xuân - Lúa mùa - Rau; Ngô - Rau các loại; Chuyên rau an toàn; Cây ăn quả các loại. Các mô hình này đạt thu nhập hỗn hợp vượt 150 triệu đồng/ha/năm, giá trị ngày công trên 250.000 đồng/công và hệ số hiệu quả đồng vốn đạt từ 1,5 đến 2,8 lần.
  • Nhóm hiệu quả trung bình (đạt 16 - dưới 21 điểm): Có 4/12 kiểu sử dụng đất (chiếm 33,33%), chủ yếu là các mô hình luân canh 2 vụ màu hoặc mía thâm canh trên đất dốc.
  • Nhóm hiệu quả thấp (dưới 16 điểm): Có 2/12 kiểu sử dụng đất (chiếm 16,67%), gồm kiểu độc canh Lúa xuân - Lúa mùa và mô hình vườn tạp Nhãn, vải. Kiểu Lúa xuân - Lúa mùa cho thu nhập hỗn hợp thấp dưới 80 triệu đồng/ha/năm và giá trị ngày công chưa đạt 100.000 đồng/công.

Môi trường nông nghiệp chịu áp lực ô nhiễm công nghiệp nghiêm trọng. Kết quả đo đạc bụi lắng tại 8 điểm quan trắc năm 2016 cho thấy nồng độ bụi vượt quy chuẩn vệ sinh y tế từ 2,56 lần (tại vị trí B2) đến 15,27 lần (tại vị trí N1 với 1.466 tấn/km²/năm). Chất lượng nước mặt sông Hoạt có hàm lượng Coliform vượt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột B1, tiềm ẩn rủi ro lớn cho vùng sản xuất rau thực phẩm.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả vượt trội của 6 kiểu sử dụng đất nhóm cao bắt nguồn từ việc tăng hệ số sử dụng đất thông qua vụ đông (cây khoai lang, rau các loại) và xen canh cây họ đậu (lạc, đậu tương). Cây họ đậu có khả năng cố định đạm sinh học, giúp cải thiện độ phì cho đất xám và đất phù sa, giảm lượng phân đạm hóa học cần bón khoảng 15 - 20%. Ngược lại, mô hình độc canh 2 vụ lúa truyền thống có chi phí trung gian chiếm tỷ trọng cao nhưng giá bán lúa thương phẩm thấp, khiến hiệu quả đồng vốn bị thu hẹp đáng kể.

So sánh với các nghiên cứu của Đỗ Thị Tám tại huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên) và Nguyễn Thanh Trà tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội), kết quả tại Bỉm Sơn khẳng định xu thế tất yếu: tại các vùng ven đô thị và khu công nghiệp, việc chuyển đổi từ độc canh lúa nước sang mô hình luân canh lúa - màu, chuyên rau hoặc cây ăn quả giá trị cao giúp gia tăng giá trị kinh tế từ 2 đến 3,5 lần trên cùng một đơn vị diện tích.

Để minh họa trực quan sự phân hóa này, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn qua biểu đồ radar so sánh 9 chỉ tiêu của 12 LUT hoặc bảng ma trận phân hạng điểm tổng hợp KT - XH - MT. Biểu đồ sẽ làm nổi bật khoảng cách chênh lệch lớn giữa mô hình chuyên rau/cây ăn quả (đạt điểm tuyệt đối ở góc kinh tế - xã hội) so với mô hình lúa thuần túy, cung cấp luận cứ sắc bén cho việc điều chỉnh cơ cấu cây trồng địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực địa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thị xã Bỉm Sơn:

  1. Quy hoạch và chuyển đổi cơ cấu cây trồng: UBND thị xã Bỉm Sơn và Phòng Kinh tế cần phê duyệt đề án chuyển đổi tối thiểu 30 - 35% diện tích trồng lúa kém hiệu quả (thuộc nhóm đất phù sa glây và đất xám) sang mô hình luân canh Lạc xuân - Lúa mùa - Rau và chuyên rau an toàn tại phường Lam Sơn, xã Hà Lan. Đồng thời, thay thế toàn bộ diện tích vườn tạp nhãn, vải kém năng suất sang trồng cây ăn quả có giá trị thương phẩm cao như ổi, thanh long ruột đỏ; hoàn thành mục tiêu chuyển dịch cơ cấu trước năm 2022.
  2. Áp dụng gói kỹ thuật thâm canh và cải tạo đất bạc màu: Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật chủ trì hướng dẫn nông dân bón phân cân đối, nâng tỷ lệ sử dụng phân hữu cơ vi sinh lên trên 60% tổng lượng phân bón, giảm 20 - 25% lượng phân hóa học vô cơ trên 1.434,97 ha đất xám và 613,45 ha đất đỏ. Kỹ thuật này giúp khắc phục hiện tượng cố định lân và suy thoái tầng đất mặt, duy trì độ phì bền vững giai đoạn 2018 - 2025.
  3. Phát triển chuỗi liên kết giá trị và vùng chuyên canh VietGAP: Phòng Kinh tế phối hợp cùng các hợp tác xã xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại phường Lam Sơn và vùng dứa, mía thâm canh tại phường Bắc Sơn; kết nối với các siêu thị, bếp ăn khu công nghiệp để đạt tỷ lệ bao tiêu sản phẩm nông sản sạch trên 80% vào năm 2023.
  4. Kiểm soát ô nhiễm và nâng cấp hạ tầng thủy lợi: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp ban quản lý các khu công nghiệp tăng cường kiểm tra xử lý khí thải bụi lắng từ các nhà máy xi măng, giám sát nước thải công nghiệp đổ ra sông Hoạt và kênh Tam Điệp. UBND thị xã bố trí vốn đầu tư nạo vét, kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng phục vụ 70% diện tích canh tác trước năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý Nhà nước về đất đai và nông nghiệp: Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế cấp huyện, thị xã có thể khai thác số liệu phân loại 4 nhóm đất và quy trình cho điểm 12 LUT để xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp huyện thời kỳ 2021 - 2030.
  • Nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học ngành Quản lý đất đai: Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận tích hợp khung FAO với khảo sát nông hộ phân tầng (90 hộ), làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế đất và quy hoạch nông thôn.
  • Doanh nghiệp và Hợp tác xã nông nghiệp: Các chủ đầu tư nông nghiệp có thể ứng dụng các chỉ số về suất đầu tư, chi phí trung gian, hiệu quả đồng vốn (đạt 1,5 - 2,8 lần) để lập phương án kinh doanh trang trại công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và mô hình du lịch sinh thái nông nghiệp.
  • Hộ nông dân và chủ trang trại tại địa phương: Người sản xuất trực tiếp có thể nắm bắt công thức luân canh tối ưu (như Lúa - Lúa - Khoai lang, Lạc - Lúa - Rau) để chủ động chuyển đổi giống cây trồng, nâng cao thu nhập trên 150 triệu đồng/ha/năm và giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã tiến hành đánh giá bao nhiêu loại hình sử dụng đất tại thị xã Bỉm Sơn?
Nghiên cứu đã đánh giá chi tiết 12 kiểu sử dụng đất nông nghiệp phổ biến. Kết quả phân hạng đa tiêu chí cho thấy có 6 kiểu đạt hiệu quả cao (nổi bật là Lạc xuân - Lúa mùa - Rau, chuyên rau), 4 kiểu đạt hiệu quả trung bình và 2 kiểu cho hiệu quả thấp gồm độc canh Lúa xuân - Lúa mùa và vườn tạp Nhãn, vải.

Nhóm đất nào chiếm diện tích lớn nhất tại địa phương và định hướng sử dụng ra sao?
Nhóm đất xám chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.434,97 ha (chiếm 44,39% diện tích đất nông nghiệp), phân bố ở các phường Bắc Sơn, Ba Đình, Ngọc Trạo. Với tầng đất dày, vùng này rất thích hợp để quy hoạch trồng cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc), cây ăn quả đặc sản và trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc tập trung.

Giải pháp môi trường trọng tâm nào được đề xuất để bảo vệ đất nông nghiệp Bỉm Sơn?
Tác giả đề xuất tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh, giảm phân hóa học, thực hiện bón vôi khử chua cho đất phù sa chua và áp dụng nguyên tắc 4 đúng khi dùng thuốc bảo vệ thực vật. Đồng thời, thị xã cần kiểm soát chặt chẽ nồng độ bụi lắng đang vượt tiêu chuẩn từ 2,56 đến 15,27 lần từ các nhà máy xi măng.

Vì sao mô hình độc canh 2 vụ lúa nước lại bị xếp vào nhóm hiệu quả thấp?
Kiểu Lúa xuân - Lúa mùa đạt điểm tổng hợp dưới 16 điểm do chi phí vật tư trung gian lớn, năng suất lúa không còn dư địa đột phá và giá trị ngày công chỉ đạt dưới 100.000 đồng/công. Mô hình này không đem lại lợi ích kinh tế thỏa đáng cho nông dân trong điều kiện giá nhân công tăng cao.

Điểm đổi mới nổi bật trong phương pháp đánh giá của đề tài là gì?
Điểm nổi bật là việc lượng hóa đồng thời cả 3 khía cạnh Kinh tế, Xã hội và Môi trường trên thang điểm chuẩn 27 theo chuẩn FAO. Phương pháp này khắc phục nhược điểm của các cách tiếp cận truyền thống vốn chỉ chú trọng đến tiêu chí sản lượng hoặc doanh thu mà bỏ quên tính bền vững sinh thái.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại chi tiết 4 nhóm đất chính tại thị xã Bỉm Sơn, xác định nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất (1.434,97 ha, chiếm 44,39%).
  • Đánh giá toàn diện 12 kiểu sử dụng đất, phát hiện 6 kiểu đạt hiệu quả tổng hợp cao cần ưu tiên nhân rộng và 2 kiểu kém hiệu quả cần chuyển đổi khẩn cấp.
  • Nhận diện các rủi ro môi trường nghiêm trọng từ bụi lắng công nghiệp (vượt chuẩn 2,56 - 15,27 lần) và nguồn nước tưới bị ô nhiễm vi sinh.
  • Xây dựng hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về quy hoạch vùng chuyên canh, kỹ thuật cải tạo đất, chuỗi liên kết VietGAP và kiểm soát ô nhiễm.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ mục tiêu phát triển bền vững quỹ đất nông nghiệp trong tiến trình đô thị hóa thị xã.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và phương pháp đánh giá đất đai định lượng chuẩn mực, đóng vai trò nền tảng cho việc lập quy hoạch sử dụng đất thị xã Bỉm Sơn giai đoạn 2021 - 2030. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu nên tiếp tục ứng dụng công nghệ GIS để số hóa bản đồ phân hạng thích nghi đất đai, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trong giai đoạn tiếp theo.