CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đất đai Đất đai là một loại tài nguyên tự nhiên, một loại tài nguyên sản xuất, bao gồm cả lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất. Theo quan điểm kinh tế học thì đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm cả tài nguyên trong lòng đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và trong lòng đất không do lao động và con người làm ra, tức là bao gồm nước mặt đất và nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và động vật.
Đất đai là tài sản vì đất đai đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người, có giá trị sử dụng lâu dài; con người có khả năng chiếm hữu và sử dụng và là đối tượng trao đổi mua bán, tặng cho, tham gia giao dịch dân sự. bên cạnh đó, đất đai còn là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, được chuyển tiếp qua các thế hệ, dạng tài sản trong phương thức tích luỹ của cải vật chất của xã hội, của loài người. Luật Đất đai là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật đất đai, do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình con người trực tiếp chiếm hữu quản lý và sử dụng đất đai, nhằm sử dụng đất đúng mục đích đúng quy hoạch tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao vì lợi ích của nhà nước, của xã hội và lợi ích của người sử dụng đất (Trần Quang Huy, 2018). Đất đai là một vạt đất xác định về mặt địa lý, một phần diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động thực vật, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có 4 ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó của con người trong hiện tại và tương lai.
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng của quốc gia. Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp hộ gia đình, cá nhân sử dụng gồm đất nông nghiệp được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; do thuê quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác; do nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng được quy định như cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc; Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ đất được giao, được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Khái niệm hiệu quả sử dụng đất Hiệu suất cao sử dụng đất nông nghiệp ngày càng được nâng cao khi yếu tố tái tạo đất ngày càng được chú trọng, bên cạnh việc vận dụng những kỹ thuật khoa học công nghệ tiên tiến mới trong sản xuất nông nghiệp tạo cơ sở sản xuất, sản lượng loại sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng cao.
Các cấp chính quyền, Quốc hội nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình về việc quản lý đất đai, hoàn thiện chính sách đền bù, công cụ tài chính, đấu giá công khai, minh bạch và khách quan; sử dụng các phân khúc thị trường đất đai, bao gồm đất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch, nhà ở một cách hiệu quả trong kế hoạch phát triển quốc gia. 5 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể nhìn nhận dưới góc độ thời gian sử dụng đất hay thời gian quay vòng đất để tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Đó là lượng sản phẩm hay giá trị sản phẩm được làm ra trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp trong một chu kỳ sản xuất. Khi khoa học công nghệ phát triển (như áp dụng các công nghệ tiên tiến, canh tác trong môi trường nhân tạo như trên giá thể, trong nhà lưới, nhà kính, thuỷ canh…), người sản xuất có thể làm chủ thời vụ, điều khiển một số yếu tố thời tiết khí hậu, cho phép nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Theo đó, quan điểm tác giả, hiệu quả sử dụng đất được thể hiện bằng công cụ quản lý đất đai, sử dụng một cách hiệu quả các công cụ: Quyền lực, tài chính và thông tin đảm bảo thực thi chính sách đất đai, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường tại các địa phương. Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp Trong những năm gân đây đã có nhiều nghiên cứu khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý đất nông nghiệp và có một số nghiên cứu nội bật như sau: Luật đất đai năm 2013 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”. Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành.
6 Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính). Vì vậy: - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. - Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững * Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất mà là của mọi ngành, mọi vùng.
Đây còn là vấn đề mang tính toàn cầu, vì xu hướng chung của thế giới hiện nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu, sao cho nguồn lực hạn chế mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất với mức hao phí ít nhất. * Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững: Để duy trì được khả năng bền vững đối với đất đai, Smith A.J và Julian 7 Dumanski (1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng đất: - Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất. - Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất. - Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước.
- Khả thi về mặt kinh tế. - Được xã hội chấp nhận. Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội. Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện.
Theo quan điểm và nguyên tắc FAO thì sử dụng đất bền vững áp dụng vào điều kiện ở Việt Nam cần phải thể hiện ở ba nguyên tắc sau: - Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận. Hệ thống sử dụng đất phải có chức năng xuất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả.và tàn dư để lại). Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường.
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng. Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất. Tổng giá trị trong một giai đoạn 8 hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng.