Tổng quan nghiên cứu

Huyện Bình Chánh là cửa ngõ phía Tây - Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích tự nhiên 25.255,29 ha, chiếm 12% diện tích toàn đô thị. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng khiến quỹ đất nông nghiệp của huyện giảm còn 17.036,45 ha vào năm 2015, chiếm 67,45% diện tích tự nhiên. Với quy mô dân số 591.451 người và mật độ trung bình 2.342 người/km2 (xã Bình Hưng cao nhất đạt 5.559 người/km2, xã Bình Lợi thấp nhất là 542 người/km2), áp lực chuyển đổi đất đai phục vụ hạ tầng và dân sinh ngày càng gay gắt. Năm 2016, giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện đạt 966,7 tỷ đồng (tăng 5,3% so với năm 2015), trong đó ngành trồng trọt đóng góp 411,1 tỷ đồng (chiếm 42,5%) và chăn nuôi đạt 449,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng đất tại nhiều xã chưa tương xứng với tiềm năng do ảnh hưởng của đất phèn trũng và tập quán canh tác manh mún. Nghiên cứu này đánh giá toàn diện thực trạng cơ cấu và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong giai đoạn 2015 - 2018. Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học thực tiễn giúp huyện Bình Chánh định hướng chuyển đổi cây trồng hiệu quả cao, nâng cao thu nhập cho nông hộ và phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung đánh giá đất đai của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc kết hợp với 5 nguyên tắc sử dụng đất bền vững của Smyth và Dumanski gồm: duy trì nâng cao sản xuất, giảm thiểu rủi ro, bảo vệ tiềm năng tài nguyên, đảm bảo tính khả thi kinh tế và được xã hội chấp nhận. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận lý thuyết hệ thống trong kinh tế nông nghiệp, khẳng định hiệu quả sử dụng đất là sự tích hợp hữu cơ giữa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: Loại hình sử dụng đất (LUT), Giá trị sản xuất (GTSX), Thu nhập hỗn hợp (TNHH), Hiệu quả đồng vốn (HQĐV) và Giá trị ngày công lao động (GTNC). Về thổ nhưỡng, huyện Bình Chánh phân thành 3 nhóm đất chính: đất phèn chiếm diện tích lớn nhất với 10.508,6 ha (41,7%), đất phù sa đạt 5.797,7 ha (23,0%) và đất xám chiếm 3.716,8 ha (14,7%).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong giai đoạn 2015 - 2018. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trạm Khuyến nông và Phòng Thống kê huyện Bình Chánh. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện điều tra bảng hỏi trực tiếp với cỡ mẫu 60 hộ nông dân, phân bổ đều tại 3 xã nông nghiệp trọng điểm: xã Bình Lợi (20 hộ), xã Tân Nhựt (20 hộ) và xã Phạm Văn Hai (20 hộ). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu có hệ thống với thứ tự ngẫu nhiên. Lý do chọn 3 xã này là vì đây là các địa bàn còn diện tích nông nghiệp tập trung lớn, đại diện cho vùng đất phèn trũng đặc thù (10.508,6 ha) đang hoàn thiện thủy lợi, tránh sự nhiễu loạn dữ liệu từ các xã đô thị hóa nhanh. Phương pháp phân tích kinh tế định lượng được áp dụng để tính toán các chỉ tiêu tài chính trên 1 ha canh tác (GTSX, CPTG, TNHH, GTNC, HQĐV), kết hợp so sánh định tính mức độ chấp nhận của người dân và đối chiếu lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật với khuyến cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thổ nhưỡng chi phối mạnh mẽ bố trí cây trồng: đất phèn chiếm 10.508,6 ha (41,7%), đất phù sa chiếm 5.797,7 ha (23,0%) và đất xám đạt 3.716,8 ha (14,7%). Đặc điểm này thúc đẩy hình thành các vùng chuyên canh chịu phèn như mai vàng tại Bình Lợi, khóm và mía tại Tân Nhựt và Phạm Văn Hai.

Thứ hai, hiệu quả kinh tế giữa các loại hình sử dụng đất có sự chênh lệch lớn: Mô hình chuyên canh hoa mai vàng và rau an toàn đạt thu nhập hỗn hợp từ 120 đến 250 triệu đồng/ha/năm, hiệu quả đồng vốn đạt 1,8 đến 2,5 lần. Trong khi đó, mô hình trồng lúa 2 vụ chỉ mang lại thu nhập hỗn hợp từ 25 đến 35 triệu đồng/ha/năm, hiệu quả đồng vốn đạt 1,2 đến 1,4 lần do chi phí đầu vào cao.

Thứ ba, về mặt xã hội, ngành nông nghiệp góp phần tạo sinh kế cho lực lượng lao động chiếm 71,33% dân số huyện. Giá trị ngày công lao động của mô hình hoa kiểng và rau màu đạt 250.000 đến 350.000 đồng/công, cao hơn 40% đến 60% so với trồng lúa nước.

Thứ tư, về hiệu quả môi trường, nông dân tại địa bàn nghiên cứu có xu hướng bón phân đạm và lân vượt 15% đến 30% so với khuyến cáo chuyên môn, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật từ 4 đến 6 lần/vụ.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả kinh tế vượt trội của hoa kiểng và rau màu bắt nguồn từ mức thâm canh cao và vị trí tiếp giáp thị trường tiêu thụ rộng lớn của Thành phố Hồ Chí Minh. Các nông hộ chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã tối ưu hóa chi phí trung gian và nâng cao giá trị ngày công. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu nông nghiệp ven đô tại Hưng Yên và Đồng bằng sông Cửu Long, khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch sang nông nghiệp đô thị.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua bảng tổng hợp chi phí - doanh thu của từng loại hình sử dụng đất, kết hợp biểu đồ cột so sánh giá trị sản xuất với thu nhập hỗn hợp và biểu đồ tròn cơ cấu đất đai (đất phèn 41,7%, đất phù sa 23,0%, đất xám 14,7%), giúp các cấp quản lý dễ dàng nhận diện tiềm năng chuyển đổi không gian canh tác.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nông nghiệp đô thị: Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuyển đổi 3.000 đến 4.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình hoa mai vàng, hoa lan và rau an toàn trong giai đoạn 2020 - 2025, hướng tới giá trị sản xuất bình quân đạt trên 350 triệu đồng/ha/năm.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng thủy lợi và giao thông nội đồng: Phòng Kinh tế huyện chủ trì nạo vét, kiên cố hóa hệ thống kênh mương tiêu thoát phèn trên 10 tuyến sông rạch chính như sông Cần Giuộc, sông Chợ Đệm, kênh C trong giai đoạn 2020 - 2023, đảm bảo cấp nước ngọt rửa phèn chủ động cho 10.508,6 ha đất phèn.

Thứ ba, chuyển giao công nghệ sinh thái và chuẩn hóa quy trình canh tác: Trạm Khuyến nông phối hợp Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật triển khai 15 đến 20 mô hình VietGAP trong giai đoạn 2020 - 2024, hướng dẫn nông dân giảm 20% đến 30% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật vô cơ.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách vốn và liên kết chuỗi giá trị: Hội Nông dân huyện phối hợp với các ngân hàng thương mại triển khai gói tín dụng ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ giai đoạn 2020 - 2025, đồng thời thành lập từ 5 đến 7 hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới nhằm bao tiêu trên 90% sản lượng nông sản hàng hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ quy hoạch đất đai: Cung cấp số liệu thực chứng về hiện trạng 20.023,1 ha đất tự nhiên và 17.036,45 ha đất nông nghiệp, làm cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2020 - 2030 sát thực tiễn đô thị hóa.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Quản lý đất đai: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận đánh giá toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ven đô trên 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường theo tiêu chuẩn FAO.

Thứ ba, doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao: Dữ liệu phân vùng thổ nhưỡng với 41,7% đất phèn và 23,0% đất phù sa giúp nhà đầu tư lựa chọn địa điểm, xây dựng trang trại sinh thái và tính toán tỷ suất sinh lời chính xác.

Thứ tư, nông hộ và chủ trang trại tại huyện Bình Chánh: Cung cấp bảng hạch toán kinh tế chi tiết từ 60 hộ khảo sát, giúp người dân tự tin chuyển đổi sang cây trồng có hiệu quả đồng vốn trên 1,8 lần và áp dụng bón phân hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao nhóm đất phèn chiếm tỷ trọng cao nhất tại huyện Bình Chánh và định hướng khai thác ra sao?
Trả lời: Đất phèn chiếm 10.508,6 ha, tương đương 41,7% diện tích tự nhiên của huyện, tập trung nhiều ở xã Tân Nhựt, Bình Lợi và Phạm Văn Hai với địa hình trũng từ 0,5m đến 1,0m. Hướng khai thác tối ưu là hoàn thiện hệ thống thủy lợi rửa phèn, chuyển đổi từ lúa năng suất thấp sang mô hình mai vàng, dứa hoặc mía cho giá trị kinh tế cao vượt trội.

Câu hỏi 2: Loại hình sử dụng đất nông nghiệp nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trên địa bàn nghiên cứu?
Trả lời: Khảo sát thực tế tại 3 xã nông nghiệp cho thấy mô hình chuyên canh hoa mai vàng tại xã Bình Lợi và rau an toàn đạt hiệu quả cao nhất. Thu nhập hỗn hợp đạt từ 120 đến 250 triệu đồng/ha/năm, hiệu quả đồng vốn đạt 1,8 đến 2,5 lần, cao gấp 3 đến 5 lần so với canh tác lúa truyền thống chỉ đạt 25 đến 35 triệu đồng/ha.

Câu hỏi 3: Quá trình đô thị hóa tác động như thế nào đến quỹ đất nông nghiệp huyện Bình Chánh?
Trả lời: Với dân số 591.451 người và mật độ trung bình 2.342 người/km2 (xã Bình Hưng lên tới 5.559 người/km2), nhu cầu đất ở và công nghiệp khiến diện tích nông nghiệp giảm từ 17.036,45 ha. Tình trạng này đòi hỏi huyện phải đẩy mạnh phát triển nông nghiệp đô thị công nghệ cao trên diện tích đất còn lại.

Câu hỏi 4: Nghiên cứu áp dụng những chỉ tiêu định lượng nào để đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại hình sử dụng đất?
Trả lời: Luận văn tính toán 5 chỉ tiêu tài chính trên 1 ha gồm: Giá trị sản xuất (GTSX), Chi phí trung gian (CPTG), Thu nhập hỗn hợp (TNHH = GTSX - CPTG), Giá trị ngày công lao động (GTNC = TNHH / số công) và Hiệu quả đồng vốn (HQĐV = TNHH / CPTG), giúp phản ánh trung thực khả năng sinh lời và mức độ tối ưu hóa chi phí.

Câu hỏi 5: Khía cạnh môi trường trong canh tác nông nghiệp tại huyện Bình Chánh có tồn tại vấn đề gì?
Trả lời: Khảo sát thực tế chỉ ra rằng nông dân sử dụng phân bón hóa học vượt mức khuyến cáo từ 15% đến 30% và phun thuốc bảo vệ thực vật trung bình 4 đến 6 lần/vụ. Địa phương cần khẩn trương mở rộng các mô hình VietGAP nhằm giảm thiểu nguy cơ thoái hóa đất và ô nhiễm nguồn nước mặt.

Kết luận

  • Đất nông nghiệp huyện Bình Chánh có diện tích 17.036,45 ha trong tổng số 25.255,29 ha diện tích tự nhiên, sở hữu tiềm năng lớn với 41,7% đất phèn và 23,0% đất phù sa.
  • Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2016 đạt 966,7 tỷ đồng, trong đó ngành trồng trọt chiếm 411,1 tỷ đồng, đóng vai trò quan trọng tạo việc làm cho 71,33% lực lượng lao động địa phương.
  • Mô hình chuyên canh hoa mai vàng và rau màu đạt thu nhập hỗn hợp cao gấp 3 đến 5 lần và hiệu quả đồng vốn đạt 1,8 đến 2,5 lần so với trồng lúa truyền thống.
  • Đánh giá môi trường chỉ ra thực trạng bón thừa từ 15% đến 30% phân bón vô cơ, đòi hỏi giải pháp chuyển giao kỹ thuật canh tác sinh thái kịp thời.
  • Hoàn thiện hạ tầng thủy lợi cho 10.508,6 ha đất phèn kết hợp liên kết chuỗi giá trị là giải pháp then chốt để phát triển nông nghiệp đô thị bền vững.

Đóng góp chính của luận văn là xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất tại huyện Bình Chánh, tạo tiền đề khoa học cho công tác quản lý đất đai. Trong giai đoạn 2020 - 2025, địa phương cần lồng ghép các giải pháp chuyển đổi cây trồng vào quy hoạch sử dụng đất hàng năm. Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp cùng phối hợp đầu tư nông nghiệp công nghệ cao nhằm tối đa hóa giá trị nguồn tài nguyên đất đai tại Bình Chánh.