phần mở đầu của Luật đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”. Hiện tại và trong tương lai công nghệ thông tin phát triển mạnh, nó cho phép ta sử dụng để giải quyết các vấn đề phức tạp của kinh tế - xã hội và đây cũng là yêu cầu tất yếu đặt ra (Bộ TN và MT, 2013)[1]. Sử dụng đấi đai có ý nghĩa to lớn trong việc quản lý nhà nước về đất đai, là cơ sở để tiến hành xây dựng phát triển các ngành sản xuất hợp lý nhằm khai thác triệt để tiềm năng đất đai, nâng cao tổng sản phẩm.
Thông qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai giúp cho cải tạo nâng cao độ màu mỡ của đất, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được tiến hành là điều kiện cần thiết nhằm tạo ra những điều kiện thiết yếu để tổ chức sử dụng đất đai hợp lý hơn, sắp xếp bố trí lại các ngành sản xuất, các công trình xây dựng cơ bản, các khu dân cư một cách khoa học để có thể bắt kịp sự phát triển kinh tế xã hội của huyện và của tỉnh, đồng thời đáp ứng được yêu cầu thống nhất quản lý nhà nước về đất đai (Phạm Trí Thành, 1996)[2]. n 2 Huyện Ba Bể là huyện nằm phía Bắc tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích đất tự nhiên là 68.00 ha, có vùng sinh thái đa dạng của miền núi Bắc Bộ. Là một huyện kinh tế nông nghiệp giữ vị trí quan trọng, trong thời gian gần đây, nông nghiệp đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nhưng mang tính tự phát, chưa có quy hoạch tổng thể nên chưa phát huy được hết các tiềm năng sẵn có của huyện.Việc thu hẹp đất do chuyển đổi mục đích: đất ở, đất chuyên dùng đã có tác động đáng kể đối với nông hộ.Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế, đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghệp bền vững (Báo cáo huyện Ba Bể )[3].
Từ những vấn đề thực tế nêu trên, được được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: TS. Hoàng Văn Hùng, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất và định hướng sử dụng đất nông - lâm nghiệp, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích của đề tài Đánh giá hiệu quả sử dụng đất và xác định một số loại hình sử dụng đất có hiệu quả trên cơ sở đó định hướng sử dụng đất nông - lâm nghiệp theo hướng phát triển bền vững tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu đặc điểm của các loại hình sử dụng đất trong mỗi quan hệ giữa tài nguyên đất, môi trường và điều kiện sinh thái nông nghiệp tại huyện Ba Bể. - Trên cơ sở các nguồn tài liệu đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai, xác định mức độ thích hợp đất đai hiện tại trên địa bàn huyện Ba Bể từ đó xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp cho tương lai. n 3 - Định hướng sử dụng đất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Ba Bể. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá lợi thế và hạn chế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất tại địa phương.
- Đánh giá tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp, xác định đặc điểm của các loại hình sử dụng đất. - Lựa chọn được loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao. - Định hướng sử dụng đất, các giải pháp nâng cao sản xuất nông-lâm nghiệp của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. - Trên cơ sở đánh giá hiệu quả đất đai, từ đó định hướng về đề xuất những giả pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao và bền vững, phù hợp với điều kiện của địa phương. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp 2.
Khái niệm và quá trình hình thành đất 2. Khái niệm đất - Đất là phầm mềm mặt vỏ của trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối…). Đất là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển.
Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản (Nguyễn Ngọc Nông, 2008)[4]. - Đất đai là loại tài nguyên được sử dụng cho tất cả các nghành kinh tế - xã hội, nó là điều kiện tồn tại và phát triển của con người, trong tiến trình lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người và đất đai ngày càng có quan hệ mật thiết với nhau, đất đai trở thành nguồn tài nguyên quý giá của con người, con người dựa vào đất đai để tạo ra sản phẩm để nuôi sống mình và gia đình. Điều này cho thấy, cùng với sự phát triển tiến bộ xã hội thì con người càng cần phải có những tác động tích cực tới loại tài nguyên này một cách khoa học, hợp lý và tiết kiệm để không những đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sử dụng đất mà còn đảm bảo an toàn quỹ đất, bảo vệ môi trường sống không những cho hiện tại mà còn cho cả tương lai (Lương Văn Hinh, 2003)[5]. Khái niệm đất nông nghiệp - Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều n 5 kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động( luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo.) và công cụ hay phương tiện lao động ( sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi. Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất (Hội khoa học đất Việt Nam, 2000)[6] - Đất nông nghiệp bao gồm : + Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm. + Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới.
Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. + Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản. + Đất làm muối: Là đất sử dụng vào mục đích sản xuất muối. + Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất.
Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp Trong nông nghiệp đất đai là tài liệu quan trọng là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Đất là sản phẩm của tự nhiên và có giới hạn, phải biết cách sử dụng hợp lý để đảm bảo cho quỹ đất. Đất đai sử dụng vào nông nghiệp chiếm vị thế đang kể đối với sử phát triển toàn diện nền kinh tế, nhất là những nước lấy ngành nông nghiệp làm mũi nhọn. Nông nghiệp là hoạt động sinh kế chủ yếu của đại bộ phận dân nghèo nông thôn, nước ta với hơn 80% dân cư tập trung chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với hình thức sản xuất tự cấp tự túc đã phần nào đáp ứng được nhu cầu cấp thiết hàng ngày của người dân.
Cùng với đó đất cung cấp lương thực, thực phẩm – một nhu cầu không thể thiếu được đối với cuộc sống con người. Vì vậy, đất đai có một vị trí quan trọng trong các nghành sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Tình hình đánh giá đất đai trên thế giới Theo số liệu năm 1995, tổng diện tích đất, cũng như đất nông nghiệp của thế giới được ghi trong bảng dưới này : Bảng 2.1 Tài nguyên đất trên thế giới ( Triệu/ha ) Tiềm năng Diện tích Tổng diện Diện tích đất Khu vực đất nông đất được tích canh tác nghiệp tưới Châu Phi 2964 734 185 11 Châu Á 2679 627 451 142 Châu Đại Dương 843 143 49 2 Châu Âu 473 174 140 17 Bắc Mỹ 2138 465 274 26 Nam Mỹ 1753 681 142 9 Liên Xô cũ 2227 356 233 20 Tổng số 13077 3190 1474 227 (Nguồn: Đào Thế Tuấn, 2007)[8] - Sự bùng nổ dân số trên thế giới trong thế kỷ XX đã làm tăng sức ép dân số lên đất nông nghiệp của thế giới, đặc biệt là ở khu vực các nước kém phát triển vùng nhiệt đới Châu Á, Châu phi, Mỹ Latinh, dẫn tới việc khai thác quá mức không hợp lý các vùng đất này, làm cho đất suy thoái đáng kể. Sự gia tăng dân số trên thế giới làm tăng sức ép lên đất nông nghiệp.