Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Chương II: Phân tích hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi của Công Ty Cô Phan Tân Thanh Hưng Yên. Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. CHUONG I: CƠ SO LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE HOAT ĐỘNG SAN XUẤT KINH DOANH THUC AN CHAN NUÔI.1 Cơ sở lý luận Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng không tự làm được hoặc không đủ điều kiện dé tự làm được những sản pham vật chất và dich vụ ma mình có nhu cầu.
Những hoạt động này sáng tạo ra sản pham vật chất hoặc dich vụ dé bán cho người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải chú trọng đến điều kiện vốn có, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm tối đa chi phí. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm dat được kết quả tối đa và chỉ phí tối thiểu. Tuy nhiên để hiểu rõ bản chất của hiệu quả cũng cần phân biệt giữa khái niệm hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.1 Về hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh là gì ? Hiệu quả là vấn đề được các nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quản lý kinh doanh quan tâm hàng đầu.
Hiệu quả theo cách duy nhất được hiểu là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu chi phí bỏ ra càng ít và kết quả mang lại càng nhiều thì điều đó có ý nghĩa hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường để thực hiện nghiêm ngặt chế độ hạch toán kinh tế, đảm bảo lấy doanh thu bù đắp được chi phí và có lãi đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả cao để doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế có nhiều thành phan, có cạnh tranh và quan hệ quốc tế với nước ngoài ngày cảng được mở rộng. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thé hiểu là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực( nhân tài, vật lực, nguồn vốn.) và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nước ta hiện nay được đánh giá trên hai phương diện là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp phản ánh sự đóng góp của doanh nghiệp vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân. Còn hiệu quả xã hội của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua hoạt động góp phần nâng cao trình độ văn hoá xã hội và lĩnh vực thoả mãn nhu cầu hàng hoá - dịch vụ, góp phần nâng cao văn minh xã hội.Tiêu chuẩn của hiệu quả xã hội là sự thoả mãn nhu cầu có tính chất xã hội trong sự tương ứng với các nguồn nhân tài, vật lực ảnh hưởng tới mục đích đó. Hiện nay hiệu quả xã hội của hoạt động kinh doanh được đánh giá thông qua các biện pháp xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có khi mâu thuẫn, có khi thống nhất với nhau. Nếu doanh nghiệp có lãi thì đời sống nhân viên được cải thiện, đồng thời doanh nghiệp sẽ nộp ngân sách dé thực hiện các mục tiêu xã hội như: Xây dựng công trình công cộng, xoá đói giảm nghẻo. Như vậy, doanh nghiệp vừa đạt được hiệu quả kinh doanh vừa đạt hiệu quả xã hội. Nếu doanh nghệp có hiệu quả kinh tế kém thì cũng không đạt được hiệu quả xã hội.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước được giao nhiệm vụ kinh doanh nhằm mục đích phục vụ hải đảo, miền núi thì chi phí rất cao làm cho giá thanh toán trở thành đặc biệt, cao hơn giá thị trường chấp nhận hoặc giá chỉ đạo của Nhà nước do đó doanh nghiệp sẽ thua lỗ. Vì vậy, doanh nghiệp không đạt được hiệu quả kinh tẾ, nhưng thực hiện được hiệu quả xã hội. Tuy nhiên việc xác định hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội chỉ là tương đối vì có thé chỉ tiêu phản ánh đồng thời hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Vì vậy, để đánh giá hiệu quả kinh doanh người ta không đánh giá hiệu quả kinh tê một cách độc lập mà còn xem xét cả hiệu quả xã hội.
Một doanh nghiệp muốn tôn tại và phát triển thì quá trình hoạt động kinh doanh phải đem lại hiệu quả. Điều mà các doanh nghiệp quan tâm nhất là hiệu quả kinh tế bởi vì có hiệu quả kinh tế thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được. Trong khoá luận này, khi nói đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ xét trên phương diện hiệu quả kinh tế. Ta có thé mô tả hiệu qua kinh tế bằng công thức sau: Hiệu quả kinh tế = Kết quả đạt được : Hao phí các nguồn lực cần thiết gan với kết quả đạt được 1.2 Bản chất của hiệu quả SXKD Bản chât của hiệu quả sản xuât kinh doanh là nâng cao năng suât của lao động xã hội và tiét kiệm lao động cho xã hội.
Vì vậy, năng suât tôi da với chi phí thấp nhất chính là điều kiện cốt lõi dé nâng cao hiệu qua sản xuất kinh doanh.3 Nội dung và phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.1 Nội dung đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Mỗi don vị, mỗi doanh nghiệp khi tiến hành đánh giá hiệu quả kinh doanh đều mong muốn thông qua kết quả phân tích dé đạt được kết quả kinh doanh cao hơn, mà kết quả đó được cụ thể qua chỉ tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, lợi nhuận chỉ là kết quả cuối cùng doanh nghiệp có thể nhận được, nhưng đề có kết quả đó cần có một quá trình với sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố. Chính vì vậy, nội dung đánh giá hiệu quả kinh doanh không phải là phân tích từng chỉ tiêu riêng lẻ mà là sự kết hợp của một hệ thống chỉ tiêu phân tích. Như vậy, dé có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện, liên kết được các chỉ tiêu cũng như các nhân tố ảnh hưởng, cần phân tích hiệu quả kinh doanh trên nhiều góc độ khác nhau, có thé tổng hợp các nội dung đánh giá sau: - Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán.
Phân tích khái quát sẽ cho phép đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và “thu hút” sự chú ý của nhà phân tích vào một số biến động đột biến của các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán có ảnh hưởng đến việc xác định và đánh giá các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh khác. - Đánh giá hiệu quả kinh doanh qua nhóm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng và sức sinh lời của chi phí hay các yếu tố đầu vào. Nhóm chỉ tiêu này được xây dựng bằng cách đánh giá tương quan giữa một đơn vị kết quả thu được với một đơn vị chi phí hoặc yếu tố đầu vào. - Đánh giá hiệu quả kinh doanh qua nhóm chỉ tiêu tốc độ luân chuyển của chi phí hay các yếu tố đầu vào.
Nhóm chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh tương quan giữa doanh thu với chi phí hay các yếu tô đầu vào.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Đánh giá hiệu quả kinh doanh là một nội dung rất quan trọng của phân tích kinh doanh nói chung, do đó về nguyên tắc, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng chính là phương pháp phân tích kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình đổi mới các ngành khoa học nói chung, các phương pháp nghiên cứu cũng ngày càng hoàn thiện, bởi lẽ đối tượng của nền kinh tế là các hoạt động của nên kinh tế đã chuyên han từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Đặc biệt, người phân tích phải có quan điểm mới khi đánh giá các hiện tượng kinh tế và có cách nhìn nhận bao quát hơn, toàn diện hơn. Có khá nhiều phương pháp phân tích khác nhau mà trong đó ké cả thời đã xuất hiện thêm một số phương pháp mới rất phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại.
Phương pháp so sảnh So sánh là phương pháp được sử dụng phô biến trong phân tích nhăm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoảng thời gian ngắn nhất về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh khác nhau. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo được những nội dung sau đây - Xác định gốc so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh và được gọi là gốc so sánh. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn sốc so sánh thích hợp, sốc so sánh có thể xét theo mặt không gian và thời gian. Về mặt không gian: Gốc so sánh là chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh, hay nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cau.; Về mặt thời gian: Gốc so sánh có thê là tài liệu năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát triên của các chỉ tiêu; các mục tiêu đã dự kiên (kê hoạch, 7 dự toán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức.
- Điều kiện so sánh: Số liệu của các chỉ tiêu trong quá trình phân tích phải đảm bảo tính thống nhất, nghĩa là phải cùng một nội dung kinh tế, cùng một phương pháp tính toán, don vi đo lường, phạm vi, thời gian và quy mô không gian xác định.