LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ lâu việc thanh toán bằng thẻ đã trở nên quen thuộc đối với nhiều ngƣời ở các nƣớc trên thế giới. Trong các giao dịch thƣơng mại cổ điển, việc thanh toán đƣợc thực hiện bằng tiền mặt kèm theo nhiều rủi ro và bất tiện, ngƣời ta đã nghĩ ra các phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt điển hình là thanh toán bằng séc, bằng thẻ và bằng các phƣơng thức viễn thông khác. Những hình thức thanh toán không bằng tiền mặt trên đã mang lại rất nhiều thuận lợi trong giao dịch hàng ngày.
Việc sử dụng thẻ cũng là một hình thức thanh toán nói trên. Thẻ là phƣơng tiện thanh toán ứng dụng công nghệ cao với nhiều ƣu điểm vƣợt trội, đã trở thành công cụ thanh toán giữ vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng khắt khe của khách hàng, tạo niềm tin, uy tín với khách hàng, còn đối với ngân hàng đây là một trong những tiện ích góp phần giảm áp lực về tiền mặt, đem lại nguồn lợi không ít từ các chi phí phát sinh về thẻ và đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng, thúc đẩy phát triển thƣơng mại cũng nhƣ nền kinh tế của đất nƣớc và phù hợp với xu thế toàn cầu trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế. Thẻ Visa là loại thẻ thanh toán quốc tế, đã thu hút sự tham gia của rất nhiều ngân hàng và hoạt động chuyển tiền qua lại giữa các ngân hàng. Trong thời đại số hiện nay, thẻ Visa là một thứ bắt buộc phải có nếu khách hàng muốn tham gia các sản phẩm hoặc dịch vụ quốc tế.
Đặc biệt, đối với thẻ Visa Credit tuy mang đến rất nhiều thuận tiện cho việc thanh toán và khả năng đƣợc chấp nhận rộng rãi nhƣng vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong quy trình phát hành thẻ nhƣ thời gian làm thẻ phải mất vài tuần, tài khoản cá nhân ngân hàng vẫn còn ít, mức tín dụng của thẻ quá cao với thu nhập của ngƣời dân Việt nam,. Chính vì nguyên nhân đó cần phải có biện pháp khắc phục kịp thời. xii Hiện nay, ở Bình Dƣơng nói chung và thị xã Bến Cát nói riêng nhu cầu sử dụng thẻ Visa Credit để thanh toán các sản phẩm, dịch vụ quốc tế là rất lớn, chủ yếu là các khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt, tại Sacombank PGD Hòa Lợi đây là một địa điểm có dân cƣ khá đông, có lƣợng khách hàng tiềm năng lớn cũng nhƣ những lĩnh vực thƣơng mại, công nghiệp, dịch vụ đang phát triển.
Và để góp phần thu hút một lƣợng lớn các khách hàng tiềm năng cũng nhƣ cạnh tranh với ngân hàng khác đang có mặt tại thị trƣờng Bến Cát nhƣ Agribank, ACB, Vietcombank,. thì ngân hàng Sacombank cần phải phân tích hoạt động phát hành thẻ Visa Credit, bởi đây là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “ Đánh giá hoạt động phát hành thẻ Visa Credit tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín chi nhánh Bến Cát PGD- Hòa Lợi”. Bài khóa luận tốt nghiệp này sẽ đi sâu tìm hiểu hoạt động phát hành thẻ Visa Credit tại ngân hàng để thấy đƣợc sự khác nhau giữa lý thuyết đƣợc học từ nhà trƣờng và thực tế đang diễn ra, từ đó đƣa ra một số giải pháp cho dịch vụ thẻ Visa Credit tại ngân hàng 2.
Mục tiêu nghiên cứu Phân tích hoạt động kinh doanh của Sacombank PGD Hòa Lợi. Phân tích thực trạng phát hành thẻ Visa Credit tại Sacombank PGD Hòa Lợi. Đánh giá và đƣa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phát hành thẻ Visa Credit tại Sacombank PGD Hòa Lợi. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Quy trình phát hành thẻ Visa Credit đối ;với khách hàng tại Sacombank PGD Hòa Lợi.
xiii Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: tại Sacombank PGD Hòa Lợi. Về thời gian: từ năm 2019 đến 2021 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Định tính, thống kê, phân tích kết quả và tổng hợp các tài liệu, văn bản có liên quan đến thẻ Sacombank Visa Credit. Kết cấu đề tài Đề tài trên đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận phát hành và sử dụng thẻ visa credit tại ngân hàng Sacombank PGD Hòa Lợi Chƣơng 2: Các vấn đề lý luận cần thiết cho đề tài và thực trạng phát hành thẻ Visa Credit tại ngân hàng Sacombank PGD Hòa Lợi.
Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao dịch vụ thẻ Visa Credit tại Sacombank PGD Hòa Lợi. xiv CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT HÀNH VÀ SỬ DỤNG THẺ VISA CREDIT TẠI NGÂN HÀNG SACOMBANK PGD HÒA LỢI 1. Cơ sở lý luận về thẻ Visa Credit 1. Khái niệm về thẻ Visa Credit Visa (Visa International Service Association) là một công ty thanh toán có trụ sở tại California, Hoa Kỳ có hàng chục triệu điểm chấp nhận trên thế giới.
Thẻ Visa gồm 2 loại: thẻ ghi nợ- Visa Debit và thẻ tín dụng- Visa Credit. Các ngân hàng ở Việt Nam liên kết với tổ chức phát hành thức thẻ trên và phát hành cho các khách hàng sử dụng. Quy mô sử dụng của thẻ tín dụng Visa là có thể thực hiện thanh toán ở nhiều nơi, kể cả trong nƣớc và ngoài nƣớc, điều này khắc phục đƣợc cho hạn chế chỉ sử dụng trong nội địa của thẻ tín dụng và ghi nợ. Thẻ ghi nợ- Visa Debit là loại thẻ khách hàng chỉ có thể sử dụng khi tài khoản ngân hàng còn đủ tiền.
Hay nói cách khác là còn đủ tiền trong tài khoản thì còn sử dụng đƣợc, muốn sử dụng thì phải ra ngân hàng nạp tiền hoặc chuyển khoản tiền vào tài khoản của thẻ ghi nợ đó. Thẻ tín dụng- Visa Credit còn gọi là thẻ “chi tiêu trƣớc, trả tiền sau”, là một loại thẻ tài khoản ngân hàng bắt đầu xuất hiện từ, năm 1976. Đây chính là một hình thức cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Do đó khi làm thẻ Visa Credit này nghĩa là thay thế cho việc thanh toán trực tiếp.
Dựa trên uy tín của chủ thẻ, ngân hàng sẽ cho họ ứng trƣớc một số tiền. Họ sẽ mang thẻ thanh toán cho ngƣời bán. Sau đó chủ thẻ hoàn trả tiền cho ngân hàng. Cũng giống nhƣ các loại thẻ ngân hàng khác, thẻ tín dụng Visa Credit cũng đƣợc dùng để thực hiện các giao dịch tiền tệ, thanh toán, chuyển khoản,.
Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng + Nhận tiền gửi: cho vay đƣợc coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng - một quỹ sinh lợi đƣợc đƣợc gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi đƣợc hƣởng mức lãi suất tƣơng đối cao. + Cung cấp các tài khoản giao dịch: một dịch vụ mới, quan trọng nhất đƣợc phát hiện là tài khoản tiền gửi giao dịch-một tài khoản tiền gửi cho phép ngƣời gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. + Thực hiện trao đổi ngoại tệ (dịch vụ ngoại hối): là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên đƣợc thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, lấy một loại tiền khác và hƣởng phí dịch vụ.
+ Chiết khấu thƣơng phiếu và cho vay thƣơng mại: thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phƣơng, những ngƣời bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bƣớc chuyển tiếp từ chiết khấu thƣơng phiếu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất. + Cung cấp dịch vụ ủy thác: từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thƣơng mại. Theo đó, ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý.
Chức năng quản lý tài sản này đƣợc gọi là dịch vụ ủy thác. Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thƣờng cho cá nhân và dịch vụ ủy thác thƣơng mại cho các doanh nghiệp. 2 + Bảo quản vật có giá trị: ngay từ xƣa, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lƣu giữ vàng và các vật có giá khác của khách hàng trong kho bảo quản. Một điều hấp dẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về tài sản đƣợc lƣu giữ) có thể đƣợc lƣu hành nhƣ tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng.
Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng do phòng “kho quỹ” của ngân hàng thực hiện. + Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: thông thƣờng, ngân hàng đƣợc cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lƣợng tiền gửi mà ngân hàng huy động đƣợc. - Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gân đây: + Quản lý tiền mặt: dịch vụ quản lý tiền mặt có nghĩa là ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tƣ thặng dƣ tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Trong khi các ngân hàng có khuynh hƣớng chuyên môn hóa vào dịch vụ quản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có khuynh hƣớng đang gia tăng về việc cung cấp các dịch vụ tƣơng tự cho ngƣời tiêu dùng.
+ Cho vay tài trợ dự án: các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao và các ngành đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng. + Cho vay tiêu dùng: cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn tài chính cho các nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà, thanh toán học phí, đi du lịch,… và các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống. + Tƣ vấn tài chính: các ngân hàng từ lâu đã đƣợc khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tƣ vấn tài chính, đặc biệt về tiết kiệm và đầu tƣ.