ĐẶT VẤN ĐỀ Khi vấn đề sức khỏe và tác động của các hóa chất nông nghiệp đến sinh thái ngày càng được mọi người quan tâm nhiều hơn, người tiêu dùng đòi hỏi phải có các tiêu chuẩn cao hơn đối với các thực phẩm sạch (Đường Hồng Dật, 2003). Vì vậy việc trồng rau trên giá thể hữu cơ vừa góp phần làm sạch môi trường đồng thời giảm thiểu tình trạng ô nhiễm và đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng (Hoàng Anh Tuấn, 2013). Bí Ngòi ( Cucrbita pepo var. melopepo) là cây rau ăn trái được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như: Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, Ấn độ, Mỹ và Ai Cập.
Ở châu Âu, bí Ngòi được trồng nhiều ở Ý và Tây Ban Nha. Ở miền Bắc Việt Nam, cây bí Ngòi mới được trồng trong những năm gần đây. Tuy mới được phát triển nhưng bí Ngòi rất được người tiêu dùng ưa chuộng bởi chất lượng ngon, giòn, ngọt đậm hơn so với các cây rau ăn trái thuộc họ bầu bí như bí xanh, bầu, mướp (Ngô Thị Hạnh và cộng sự, 2015). Giá trị của bí Ngòi được quyết định với thành phần chất dinh dưỡng chứa trong trái.
Bao gồm protein 40 – 48%, lipit 15 – 19%, đặc biệt trong hạt bí ngòi chứa đủ 8 loại acid amin không thay thế mà con người và các loài động vật không thể tổng hợp như: Lipit (5,4%), tryptophan (1,6%), phenialanin (5,7%), methiamin (2,0%), triomin (4,0%), lơxin (7,0%), valin ( 4,2%), ngoài ra trong bí Ngòi còn chứa thêm chất xekithin có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, tăng trí nhớ và nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể như: B1, B2, C, A, D, E, K…Hạt bí Ngòi được dùng như vị thuốc có tác dụng tốt cho tim, gan, dạ dày, ruột,…(Ngô Thị Hằng, 2017). Phân hữu cơ là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản (Nguyễn Thanh Hiền, 2003). Trong điều kiện nhiệt đới ẩm của nước ta với đặc trưng nền nhiệt độ và độ ẩm không khí cũng như của đất cao thì tốc độ của quá trình khoáng hóa chất hữu cơ trong đất thường rất cao.
Vì vậy, nếu không có biện pháp bổ sung chất hữu cơ cho đất thì độ phì nhiêu của đất giảm sút rất nhanh. Theo Nguyễn Vy (1998), các chất hữu cơ bón SVTH: NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2 vào đất Việt Nam phân giải nhanh, bình quân 9 tháng đến 1 năm gần như đã phân giải hết. Đất mới khai hoang có hàm lượng hữu cơ khá cao (5 – 6 %), nhưng chỉ 4 – 5 năm canh tác cây lương thực ngắn ngày thì chất hữu cơ giảm sút trung bình 50 – 60 % (Trần Thu Hà, 2009). Việc sử dụng phân bón hữu cơ đem lại rất nhiều lợi ích: tăng thêm độ màu mỡ cho đất bằng cách cung cấp thêm chất hữu cơ, chất dinh dưỡng.
Cung cấp nguồn dinh dưỡng tự nhiên, giúp cây khoẻ, tăng khả năng nảy mầm với tỷ lệ đồng đều cao, khả năng chống chịu sâu bệnh cao hơn, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật cần sử dụng, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn, không gây ngộ độc về thực phẩm và không gây ô nhiễm môi trường sống. Ngoài tác dụng làm tăng sản lượng và cung cấp dưỡng chất trực tiếp cho cây. Các loại phân hữu cơ có thể cải thiện tuổi thọ đất và khả năng sản xuất lâu dài của đất…(Nguyễn Thanh Hiền, 2003). Sự gia tăng sản lượng cũng như năng suất cây trồng tương quan thuận với lượng phân bón hóa học sử dụng và chính sự lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm và nông dân cũng bị ảnh hưởng (Kumar và cộng sự, 2001).
Chính vì thế, ngày càng có nhiều nghiên cứu và tìm kiếm nguồn phân bón sinh học để thay thế phân hóa học. Sự hiệu quả của vi khuẩn cố định đạm đã giúp giải quyết phần nào lượng phân đạm hóa học (Chabot và cộng sự, 1996). Phân sinh học là sản phẩm có chứa một hoặc nhiều loài vi sinh vật có khả năng huy động các yếu tố quan trọng về mặt dinh dưỡng từ dạng không thể sử dụng đến dạng có thể sử dụng thông qua các quá trình sinh học như cố định đạm, hòa tan photphat, bài tiết sinh trưởng của cây thúc đẩy cellulose và phân hủy sinh học trong đất, phân hữu cơ và các môi trường khác. Mặt khác phân sinh học là chế phẩm vi sinh vật sống của vi khuẩn, tảo, nấm hoặc kết hợp và chúng làm tăng sự sẵn có của các chất dinh dưỡng cho cây trồng (Kumawat và Narendra , 2017).
Để thúc đẩy quá trình đậu trái cho cây cần bổ sung thêm chất dinh dưỡng trong đó có boron. Hoa có nhu cầu boron (B) cao trong quá trình nở để hình thành trái. Boron đóng vai trò quan trọng trong phân chia tế bào, tăng sức sống của phấn hoa làm quá trình thụ phấn diễn ra hiệu quả hơn. Việc phun boron lên hoa thường được SVTH: NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 3 sử dụng nhằm giúp cho việc thụ tinh, hình thành trái và phát triển trái trong giai đoạn sớm, tăng tỷ lệ đậu hoa và đậu trái cho cây (Bùi Thị Mỹ Hồng và cộng sự, 2017).
Một số kết quả nghiên cứu đã cho thấy boron có hiệu quả làm tăng tỷ lệ nảy mầm hạt phấn và giúp tăng trưởng chiều dài ống phấn, gia tăng sự đậu trái, cải thiện được năng suất trên cam Sành (Nguyễn Văn Cừ và Nguyễn Bảo Toàn, 2006) và kết quả tương tự trên cây dừa Ta xanh (Trần Văn Hâu và Trần Thị Thúy Ái, 2011). Theo nghiên cứu của Bùi Thị Mỹ Hồng và cộng sự (2017) khi phun boron cũng cho kết quả tăng khả năng đậu trái ở cây cà chua Đen; ngoài ra, boron còn làm gia tăng số trái non đậu trên phát hoa và nâng cao số trái trên chùm cây nhãn Xuồng Cơm Vàng khi thu hoạch trên nghiên cứu của Nguyễn Văn Thiệt (2016). Theo Ali và cộng sự 2015, khi bổ sung đồng thời kẽm và boron lên giống cây cà chua lai BARI 4 đã làm tăng các đặc tính sinh trưởng, giảm thời gian sinh trưởng của cây và tăng năng suất và phẩm chất của trái cà chua. Bên cạnh đó, một trong những biện pháp canh tác rau ăn trái an toàn được triển khai hiện nay là trồng rau ăn trái trong nhà lưới.
Nông sản được sản xuất trong nhà kính, nhà lưới đem lại hiệu quả rõ nét về mặt năng suất cũng như chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh cho sản phẩm, đồng thời có thể ngăn ngừa được côn trùng phá hoại nên giảm được tối đa lượng thuốc trừ sâu sử dụng, sản phẩm rau ăn trái an toàn hơn (Hoàng Anh Tuấn, 2013). Do đó đề tài: “Đánh giá hiệu quả của một số loại phân hữu cơ và sinh học đến sinh trưởng, năng suất của cây bí Ngòi (Cucurbita pepo var. melopepo) trong điều kiện nhà lưới” đã được thực hiện. Mục tiêu của đề tài - Tìm ra được loại phân, liều lượng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây bí Ngòi.
- Tìm ra mức độ kết hợp giữa phân vô cơ, hữu cơ với phân sinh học chứa vi lượng boron sử dụng cho cây một cách hiệu quả, nâng cao năng suất và chất lượng bí Ngòi nhằm hướng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, sản xuất rau sạch, an toàn cho người tiêu dùng. SVTH: NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 4 PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây bí Ngòi 1. Nguồn gốc của bí Ngòi Tên khoa học của cây bí Ngòi: Cucrbita pepo var.
melopepo Phân loại khoa học: • Giới: Plantae • Ngành: Hạt kín (Angiospermatophyta) • Lớp: Hai lá mầm (Dicotyledoneae) • Bộ: Bầu bí (Cucurbitales) • Họ: Bầu bí (Cucurbitaceae) • Chi: Cucurbita. • Loài: Cucurbita pepo. Bí Ngòi, giống như tất cả các loại bí, có nguồn gốc từ châu Mỹ, đặc biệt là Trung Bộ châu Mỹ. Tuy nhiên, các giống bí xanh, hình trụ được thu hoạch chưa trưởng thành và thường được gọi là "bí Ngòi" được trồng ở miền bắc nước Ý, khoảng ba thế kỷ sau khi giới thiệu dưa chuột từ châu Mỹ.
Những ghi chép đầu tiên về bí Ngòi ở Mỹ có từ đầu những năm 1920. Nó được đưa đến Mỹ bởi những người nhập cư Ý và có lẽ được trồng đầu tiên ở Mỹ và California (Lust và cộng sự, 2016). Đặc điềm thực vật học của cây bí Ngòi 1. Rễ Cũng giống như các cây trong họ bầu bí, rễ bí Ngòi phát triển rộng nhưng ăn nông.
Thân Bí Ngòi là loại cây thuộc họ bầu bí nhưng thân cây thẳng đứng, khả năng sinh trưởng rất mạnh, chỉ thấp khoảng 0,5 - 0,8 m, trên thân có nhiều lông. Khả năng phân cành nhánh của bí Ngòi thấp. SVTH: NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 5 1. Lá Lá bí Ngòi được mọc so le trên thân, cuống rỗng lá dài như ống lá, đu đủ, lá hình tim có xẻ thuỳ sâu tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng giống.
Trên lá có lông, nhất là mặt dưới. Hoa Bí Ngòi luôn dạng đơn tính cùng gốc (monoecious), rất hiếm có cây lưỡng tính. Hoa đực và hoa cái mọc riêng lẻ ở kẽ lá, màu vàng, đường kính hoa: 15 - 20 cm. Hoa đực có cuống dài 5 - 8 cm, có lông.
Hoa cái có bầu nhụy dài 10 - 12 cm, có lông. Trái Trái bí Ngòi có nhiều màu sắc khác nhau, trái non có màu trắng, vàng, xanh nhạt tới xanh đậm, vỏ trái nhẵn bóng rất đẹp. Trái có các hình trụ dài, có một số giống thương mại có trái dài tới 35 - 40 cm. Khi trái chín quả chuyển sang màu vàng.
Hạt Hạt có màu vàng, vàng nhạt có thể vàng đậm vỏ hạt mềm (Tô Thị Thu Hà và cộng sự, 2012). Yêu cầu ngoại cảnh của bí Ngòi 1. Nhiệt độ Bí Ngòi cũng giống như các cây trong họ bầu bí, ưa khí hậu ấm áp. Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây sinh trưởng và phát triển từ 220C - 270C.
Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm 300C - 320C. Khi nhiệt độ thấp sẽ kìm hãm quá trình sinh trưởng, sương giá có thể làm cây chết. Tuy nhiên nhiệt độ cao quá làm hạn chế quá trình sinh trưởng cũng như ra hoa và đậu trái. Bí Ngòi cũng như một số cây trong họ bầu bí là cây ưa sáng, yêu cầu cường độ ánh sáng mạnh để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất cao.