CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TRÀ RAU MÁ 1. Quan điể m và bả n chấ t củ a hiệ u quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả của việc sử dụng các nguồn lực như lao động, vật tư, tiền vốn. Về hình thức, hiệu quả kinh tế phải là một đại lượng so sánh giữa kết quả sản xuất thu được và chi phí bỏ ra.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế.TS Ngô Đình Giao, “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế từ các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước.” Để đánh giá hiệu quả kinh tế một cách toàn diện, cần đứng trên nhiều góc độ khác nhau có mối quan hệ chặt chẽ với nhautheo không gian – thời gian – số lượng – chất lượng : - Về không gian : Cần xét hiệu quả kinh tế trong tổng thể chung với mối quan hệ hữu cơ hợp lý chứ không nên xét một mặt, một lĩnh vực riêng biệt. - Về thời gian : Sự toàn diện của hiệu quả kinh tế đạt được không chỉ xét ở từng giai đoạn mà trong toàn bộ chu kỳ sản xuất - Về số lượng : Hiệu quả kinh tế phải thể hiện mối quan hệ tương quan giữa thu và chi theo hướng tăng lên hay giảm đi. - Về chất lượng : Hiệu quả kinh tế phải đảm bảo cân bằng hợp lý giữa cả về mặt kinh tế, xã hội, chính trị… Đối vơi sản xuất nông nghiệp khi xác định hiệu quả kinh tế phải tính đến việc sử dụng đất đai, các nguồn dự trữ vật chất lao động trong nông nghiệp. Tức là phải sử dụng đến các nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp.
Các tiềm năng này bao gồm : Tư liệu sản xuất, vốn, lao động,… Bảnchấtcủahiệuquảkinhtếxuấtpháttừmụcđíchsảnxuấtvàsựpháttriểnkinhtếxãhộic ủamỗiquốcgianhằmthỏamãnnhucầuvậtchấtvàtinhthầnngàycàngtăngchomỗithànhviêntr ongxãhội.Trongquatrìnhsảnxuấtcủaconngườikhôngđơnthuầnchỉchúýđếnhiệuquảkinhtế, cònphảixemxétđánhgiáhiệuquảxãhội,hiệuquảmôitrườngsinhthái. 4 Từnhữngquanđiểmtrênchúngtacóthểhiểubảnchấtcủahiệuquảkinhtếnhư sau: - Hiệuquảkinhtếlàmộtphạmtrùphảnánhchấtlượngcủacáchoạtđộngkinhtế,nângca ochấtlượnghoạtđộngkinhtếlàtăngcườngsửdụngcácnguồnlựchiệuquả.Đâyđòihỏitínhkhác hquancủanềnkinhtếsảnxuấtcủaxãhội,doyêucầucủacôngtácquảnlýkinhtếcầnthiếtphảiđán hgiánhằmnângcaochấtlượngcáchoạtđộngkinhtếđãlàmxuấthiệnphạmtrùhiệuquảkinhtế. - Hiệuquảkinhtếlàmốitươngquansosánhcảvềtuyệtđốivàtươngđốigiữalượngkếtq uảđạtđượcvàchiphíbỏra.Mụctiêucủacácnhàsảnxuấtvàquảnlýlàmộtlượngdựtrữtàinguyên nhấtđịnh muốntạorakhốilượng sảnphẩmlớnnhất,điềuđóchothấyquátrìnhsảnxuấtcósựliênkếtmậtthiếtgiữacácyếutốđầuvà ovàyếutốđầura,làsựbiểuhiệnkếtquảcủacácmốiquanhệthểhiệntínhhiệuquảcủasảnxuất. - Hiệuquảkinhtếlàvấnđềtrungtâmcủamọiquátrìnhkinhtế,cóliênquanđếntấtcảcác phạmtrùvàquyluậtkinhtếkhác.
- Hiệuquảkinhtếgắnliềnvớinộidungtiếtkiệmchiphítàinguyênchosảnxuất,tứclàgiả mđếnmứctốithiểuchiphísảnxuấttrênmộtđơnvịsảnphẩmtạothành. Như vậy bảnchấtcủahiệuquảkinhtếxuấtpháttừmụcđíchsảnxuấtvàpháttriểnkinhtế- xãhội,nhằmđápứngngày càngcaonhucầuvềvậtchấtvàtinhthầnchomọiđốitượngtrongxãhội. Hiệuquảkinhtếtrongsảnxuấtnôngnghiệpgắnliềnvớiđặcđiểmsảnxuấtnôngnghiệp.L àtổnghợpcácchiphívềlaođộng,vậtchấtđểsảnxuấtrasảnphẩmnôngnghiệp.Nóthểhiệnbằngc áchsosánhkếtquảsảnxuấtđạtđượcvớikhốilượngchiphílaođộngvàvậtchấtbỏra.Khixácđịnh hiệuquảkinhtếtrongnôngnghiệpphảitínhđếnviệcsửdụngđấtđai,cácnguồndựtrữvậtchấtlao độngtrongnôngnghiệp,tứclàsửdụngcácnguồnlựctiềmnăngtrongsảnxuấtnôngnghiệp.Cáct iềmnăngnàybaogồm:vốnsảnxuất,vốnlaođộngvàđấtđai. Lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh 1.
Khái niệm hoạt động kinh doanh 5 “ Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.[] (Nguồn: Khoản 2, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2005 ) “ Hoạt động kinh doanh là những hoạt động phù hợp và nằm trong khuôn khổ pháp luật của các tổ chức, cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua việc cung cấp hàng hóa dịch vụ trên thị trường, đồng thời hoạt động kinh doanh còn để tìm kiếm lợi nhuận”. Bùi Đức Tuân, 2005 ) Phân tích hoạt động kinh doanh hiểu theo nghĩa chung nhất là quá trình nghiên cứu tất cả các hiện tượng, sự vật có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình phân tích được tiến hành từ bước khảo sát thực tế đến tư duy trừu tượng, tức là từ việc quan sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu, xử lí phân tích các thông tin số liệu, tìm nguyên nhân đến việc đề ra các định hướng hoạt động và các giải pháp để thực hiện các định hướng đó.[] ( VOER _ Thư viện học liệu mở Việt Nam ) Trong cơ chế thị trường như hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều có một mục tiêu chung là tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Để đạt được mức lợi nhuận cao, các doanh nghiệp cần phải hợp lí hoá quá trình sản xuất – kinh doanh từ khâu lựa chọn các yếu tố đầu vào, thực hiện quá trình sản xuất cung ứng, tiêu thụ. Mức độ hợp lí hoá của quá trình được phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản. “ Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động trong kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và yêu cầu của các quy luật khách quan, nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn ”.TS Phạm Văn Dược, 2008 ) Đối với mỗi doanh nghiệp hay công ty thì tối đa hóa lợi nhuận với mức chi phí thấp nhất là mục tiêu hàng đầu giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong thị trường đầy biến động như hiện nay. Từ đó, có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất.
Vì vậy, mỗi một doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh cần phải tiến hành song song với công tác phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu đã định. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như các nguồn lực của nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh trong Doanh nghiệp Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả hoạt động kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần : Thứ nhất: Phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả hoạt động kinh doanh thực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp.
Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối. - Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả hoạt động kinh doanh là: Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Kết quả đạt được – Chi phí bỏ ra Cách tính này chỉ phản ánh được mặt lượng của hiệu quả kinh doanh mà chưa xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. - Còn về so sánh tương đối thì: Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Kết quả đạt được /Chi phí bỏ ra Do đó để tính được hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả thì kết quả nó là cơ sở và tính hiệu quả hoạt động kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể là những đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần.
Như vậy kết quả hoạt động kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ hai: Phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội hay phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hoá, nâng cao mức sống, đảm bảo vệ sinh môi trường.
Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu cả về kinh tế xã hội trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như trên phạm vi từng vùng, từng khu vực của nền kinh tế. Hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài: Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào các mục tiêu của doanh nghiệp do đó mà tính chất hiệu quả hoạt động hoạt động kinh doanh ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau. Xét về tính lâu dài 7 thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong suốt qúa trình hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi. Xét về tính hiệu quả trước mắt (hiện tại) thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu hiện tại mà doanh nghiệp đang theo đuổi.
Trên thực tế để thực hiện mục tiêu bao trùm lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận có rất nhiều doanh nghiệp hiện tại lại không đạt mục tiêu là lợi nhuận mà lại thực hiện các mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Do đó mà các chỉ tiêu hiệu quả ở đây về lợi nhuận là không cao nhưng các chỉ tiêu có liên quan đến các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp là cao thì chúng ta không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động không có hiệu quả. Như vậy các chỉ tiêu hiệu quả và tính hiệu quả trước mắt có thể là rái với các chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài.Nhiệ m vụ củ a phân tích hiệ u quả hoạ t độ ng kinh doanh Đánh giá kết quả thực hiện so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực hiện kì trước, các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân trong ngành và các thông số thị trường. - Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với mục tiêu kế hoạch, dự toán, định mức… đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng, trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh.
Đồng thời đánh giá tình hình chấp hành các quy định, các thể lệ thanh toán, trên cơ sở tôn trọng pháp luật của nhà nước đã ban hành và luật kinh doanh quốc tế. - Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp đồng thời tìm ra nguyên nhân gây nên mức độ ảnh hưởng đó. - Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh.