Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Trồng rừng nguyên liệu công nghiệp năng suất cao Trồng rừng thành công ở Bradin là một điển hình hết sức khích lệ. Năm 1991, Campinhos đã thông báo kết quả thực tiễn năng suất rừng trồng trong suốt 30 năm ở Bradin.
Có thể thấy do nhờ chọn giống, nhân giống hom và thâm canh mà năng suất rừng trồng tăng 5 % mỗi năm qua một chu kỳ dài 30 năm như. 1960 - 1965, hạt giống chất lượng di truyền thấp, năng suất 13m3/ha/năm. 1966 - 1970, hạt giống chất lượng di truyền thấp, có sử dụng bón phân, năng suất đạt 17m3/ha/năm. 1971 - 1975, hạt thuần khiết di truyền (chưa cải thiện), bón phân, năng suất đạt 22m3/ha/năm.
1976 - 1980, hạt từ rừng giống được chọn lọc, có bón phân, năng suất 35m3/ha/năm. 1981 - 1985, hạt được cải thiện, nhân giống bằng hom, bón phân, năng suất đạt 45 m3/ha/năm. 1986 - 1990, tiếp tục chọn lọc, nhân giống bằng hom, bón phân năng suất 60 m3/ha/năm. Ở một số lô thí nghiệm 6 - 8 tuổi, rừng trồng đã cho tăng trưởng 70 - 90 m3/ha/năm [20].
Diện tích rừng trồng bằng cây hom ở Công Gô từ 1978 đến 1986 là 23.407 ha, trong đó năm ít nhất 1978 là 61 ha, năm cao nhất 1984 là 5096 ha. Tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các dòng vô tính được chọn là 35 4 m3/ha/năm so với 12 m3/ha/năm ở các lô hạt chưa được tuyển chọn và 25 m3/ha/năm của các xuất xứ đã được chọn. Như vậy tăng thu từ 40% lên tới 192 %, tức là gần 3 lần so với rừng trồng chưa được cải thiện [19]. Quaile (1989) đã thông báo kết quả rừng trồng bằng cây con từ hạt ở Nam Phi đạt tăng trưởng bình quân 21,9m3/ha/năm, trong khi đó các dòng vô tính trồng đại trà, đạt trên 30m3/ha/năm.
Tác giả cho rằng, giai đoạn đầu rừng trồng từ hạt đôi khi có chiều cao lớn hơn rừng trồng từ dòng vô tính, do vậy dùng số liệu chiều cao trong hai năm đầu có thể dẫn đến kết luận sai lầm. Các dòng vô tính từ vật liệu chọn giống thế hệ cho năng suất cao hơn và đồng đều hơn cây con từ hạt. Kết luận trên của Quaile là đòn bẩy khích lệ công tác trồng rừng vô tính phục vụ nguyên liệu công nghiệp ở Nam phi. Những nghiên cứu về các loài keo Acacia Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã được đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao.
Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài, cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ ba ở cả hai điểm thí nghiệm (Havmoller,1989).1 Sinh trưởng chiều cao các loài keo 18 tháng tuổi Mindoro Mindanao Loài Mindoro Mindanao A.polystachya 2,6 m 3,1 m 5 Năm 1986, trên đảo Hải nam -Trung quốc, một khảo nghiệm với 20 xuất xứ của 8 loài keo đã được thực hiện, ở tuổi thứ 2, thứ tự xếp hạng của các xuất xứ như sau (Minquan, Ziayu và Yutian ,1989). Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao và đường kính của cây đều tương đối lớn. Loài có chiều cao và đường kính lớn nhất là A.crassicarpa với các xuất xứ khác nhau. 15 xuất xứ còn lại, bao gồm các xuất xứ keo là tràm, keo tai tượng, A.confusa, như vậy keo tai tượng không nằm trong nhóm loài và xuất xử dẫn đầu, tức là sau hai năm tuổi sinh trưởng D < 7,4 cm , H<4,7 m.
Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài keo đã được khảo nghiệm tại 6 điểm ở Thái lan( Chittachumnon và Sirila, 1991). Thứ tự xếp hạng theo chiều cao của 10 xuất xứ dẫn đầu (36 tháng tuổi) tại hai điểm thí nghiệm là : Tại Ratchaouri, Keo tai tượng xuất xứ 13846 xếp thứ chín có chiều cao 7,2 m, loài dẫn đầu là A.craosocarpa xuất xứ 13653 xếp thứ mười với chiều cao 6,8 m. Tại Saitheng, keo tai tượng không nằm trong mười xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài và xuất xứ dẫn đầu vẫn là A.crassicarpa 13683 với chiều cao 14,8 m, A. aulacocarpa xếp thứ mười với chiều cao 11,3m.
Darus (1991) khi nghiên cứu vai trò của lá trong giâm hom keo tai tượng cho rằng, lá giữ vai trò chủ chốt trong việc hình thành mô phân sinh của rễ ở các hom chưa hoá gỗ đặt dưới phun mù, cần cắt đi một phần lá cho hom gọn nhỏ lại, vừa đỡ thoát hơi nước lại tiết kiệm được diện tích dâm cây. Tác giả cho rằng cắt một nửa phiến lá đem lại kết quả ra rễ tốt nhất cho loài keo tai tượng với tỷ lệ ra rễ 76 %. Tewari (1994) [24] nghiên cứu sinh trưởng của các loài keo và một số loài cây khác trên các loại đất hoang hoá tại nhiều khu vực khác nhau ở ấn độ, kết quả đã khẳng định được tính trội về khả năng chịu hạn của một số loài keo sinh trưởng trên đất bạc màu như: A. 6 * Nghiên cứu về keo lai.
Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và keo lá tràm được Mesrs Herbum và Shim ghi nhận lần đầu vào năm 1972 thuộc bang Sabah, Malaysia. Năm 1978 Pedkey được xác định là giống lai. Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds đã thấy rằng keo lai xuất hiện từ rừng keo tai tượng với mức 3-4 cây/ha, còn Wong thì thấy xuất hiện ở tỷ lệ 1/500. Năm 1991, Cyeil Pisno và Robert Nasi đã thấy rằng tại Ulukukut, cây lai tự nhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của Keo tai tượng ở Sabah.
Các tác giả này cũng thấy gỗ của cây lai là trung gian giữa keo tai tượng và keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn Keo tai tượng. Edmund Gan và Sim Bon liang (1991) nghiên cứu hình thái ở giai đoạn vườn ươm và thấy rằng trong lúc keo lá tràm có lá giả điển hình (lá của cây trưởng thành) ở lá thứ 5. Keo tai tượng ở lá thứ 12 thì keo lai ở lá thứ 8. Sau này keo lai cũng được phát hiện ở Thái lan (Kijkar, 1992), tuy nhiên mức độ xuất hiện trên diện tích gây trồng đều rất ít.
Năm 1992 ở Inđônêxia, bắt đầu có thí nghiệm trồng keo lai bằng cây con được nhân giống từ nuôi cấy mô phân sinh cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm. Mặc dù Keo lai trên thế giới được phát hiện khá sớm và đã được nghiên cứu phát triển trong trồng rừng, nhưng các công trình nghiên cứu về keo lai chưa nhiều. Nghiên cứu lợi ích kinh tế từ rừng trồng Khi nghiên cứu về phương diện kinh tế của rừng trồng cũng được nhiều người quan tâm. Theo tài liệu lưu trữ trong Tree CD-ROM (CAB.international for asia) từ năm 1939 đến năm 1995 có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp, trong đó có 9 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng và chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
Gregersen và Amoldo, H. Contresal (1979), trong cuốn "phân tích kinh tế các dự án trong lâm nghiệp" đã đưa ra các phương pháp tính hiệu quả kinh tế trong trồng rừng với các nội dung cơ bản về lãi xuất, cơ sở tính lãi suất, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế. Hiệu quả của dự án theo phương pháp này được đánh giá trên 2 mặt. Phân tích tài chính là sự đánh giá, mô tả tính sinh lợi thương mại mà các nhà đầu tư, các doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất của dự án.
Phân tích kinh tế ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường, theo đó phân tích kinh tế là "Đánh giá những hiệu quả xã hội thu được từ việc đầu tư nguồn lực". Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam: 1. Những nghiên cứu về trồng rừng nguyên liệu công nghiệp Ở việt nam, trong những thập kỷ vừa qua, vấn đề trồng rừng và kinh doanh rừng trồng ngày càng được quan tâm. Bên cạnh những cây bản địa được gây trồng thành công, như mỡ, tre luồng, thông nhựa.
thì một số loài cây mọc nhanh như keo, bạch đàn, với nhiều xuất xứ cũng được tham gia vào cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp. Công tác cải thiện giống là một trong các lĩnh vực được quan tâm nhiều và đạt được những thành tựu đáng kể, có nhiều giống được nhà nước công nhận như keo lai dòng BV10, BV16, BV32, giống vô tính nhập nội cũng sớm được khảo nghiệm và nhân rộng. Giống được cải thiện kết hợp với các biện pháp kỹ thuật thâm canh đồng bộ đã đóng vai trò quan trọng trong công tác trồng rừng nguyên liệu công nghiệp. Trồng rừng công nghiệp đã có nhiều tác giả nghiên cứu Những năm 1992 - 1995, trong khuôn khổ của chương trình KN03-03 năm 2001, Hoàng Xuân Tý và các cộng sự đã tiến hành đề tài KN03 -13 “Nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng (Keo, Bạch đàn), sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và 8 nâng cao sản lượng rừng ở vùng Đông Nam Bộ” [7].
Nhóm tác giả đã đề ra một tổ hợp phân hữu cơ vi sinh để bón lót hữu hiệu cho bạch đàn ở vùng Sông Bé gồm: 25 gam urê + 50 gam Supe lân + 10 gam KCL + 100 đến 200 gam than bùn đã hoạt hoá. Công thức cho bón thúc là 75 gam urê + 125 gam Supelân. Các tác giả cũng kiến nghị không nên trồng mật độ thưa 1111 cây /ha vì tán quá thưa, tạo điều kiện cho cỏ Mỹ phát triển, không có lợi cho sinh trưởng của cây trồng và tốn công làm cỏ. Với hai loài keo tai tượng và keo lá tràm, nhóm tác giả cũng đưa ra kết luận, công thức bón phân tốt nhất cho bón lót là 100 gam NPK + 160 gam than bùn hoặc 100gam NPK + 100 gam than bùn + Bo + Zn.
ở mật độ 1666 cây/ha, cả hai loài keo cho năng suất cao nhất sau 40 tháng. Bằng cách tính toán giá thành phân bón và công chăm sóc, các tác giả cũng đã bắt đầu tính toán hiêu quả kinh tế của việc làm đất và bón phân và đi đến nhận định là, nếu bón phân có thể thu lợi từ 498.000đ/ha sau thời gian 40 tháng. Mai Đình Hồng (2002), nghiên cứu sinh trưởng của các dòng Bạch đàn chọn lọc PN2, PN14 trong trồng rừng sản xuất, phục vụ nguyên liệu giấy vùng trung tâm, đã thông báo kết quả sinh trưởng của bạch đàn urophylla ở các lập địa khác nhau rất khác nhau, trữ lượng cây đứng sau sáu năm ở hai khu vực vạn xuân thuộc Huyện Tam Nông Phú Thọ là 123 m3/ha và khu vực Huyện Đoan Hùng, Phú Thọ là 155m3/ha.