MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Cây chè là cây trồng có nguồn gốc Nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cây chè đã được trồng ở cả những nơi khá xa với nguyên sản của nó. Trên thế giới, cây chè phân bố từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam và tập trung chủ yếu ở khu vực từ 16 vĩ độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam.
Chè là cây công nghiệp lâu năm, có hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Trồng chè không những góp phần nâng cao độ che phủ, bảo vệ đất mà còn có tác dụng thu hút lao động, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập tích cực thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.Ngoài ra chè có nhiều giá trị dinh dưỡng và công dụng. Nước chè là thứ nước uống tốt, ngoài tác dụng giải khát, kích thích thần kinh chống mệt mỏi còn có tác dụng kích thích tiêu hóa, nhất là tiêu hóa mỡ. Qua nghiên cứu các nhà khoa học thấy rằng: Trong chè chứa nhiều vitamin như: vitamin A, vitamin C, vitamin B1, B2, B6, vitamin K, PP.
Sử dụng chè một cách hợp lý khoa học còn mang lại hiệu quả trong việc điều trị một số bệnh liên quan đến tim mạch, cao huyết áp, các bệnh liên quan đến tiêu hóa, bài tiết. Như vậy, cây chè là cây trồng có giá trị kinh tế cao, nên việc trồng chè là cần thiết và phù hợp. Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển. Năm 2015, huyện Đại Từ có khoảng 6.333 ha chè, trong đó, diện tích chè kinh doanh là 5.392 ha, năng suất đạt 115 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 62 nghìn tấn.
Để xây dựng vùng sản xuất chè chất lượng cao huyện đã chỉ 2 đạo trồng mới, trồng lại 1.800 ha bằng các giống chè có năng suất, chất lượng cao như LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, TRI777, Bát tiên… nâng tổng diện tích trồng chè bằng giống mới của huyện đạt 3. Đồng thời, huyện cũng đã chỉ đạo trồng tập trung vào một số vùng sản xuất chè chất lượng cao tại các xã La Bằng, Phú Thịnh, Hùng Sơn, Tân Linh… Nhờ vậy, tổng diện tích chè thâm canh chất lượng cao của huyện ngày càng tăng. Một số sản phẩm chè thâm canh chất lượng cao đã được khẳng định trên thị trường và có giá trị sản phẩm cao gấp 3-4 lần giá trị thương phẩm đại trà, giá trị thu nhập bình quân đạt trên 120 triệu đồng/ha chè chất lượng cao, đặc biệt có một số vùng chè như: La Bằng, Khuôn Gà (Hùng Sơn), Láng Thượng (Phú Thịnh)… có giá trị thu nhập bình quân đạt trên 150 triệu đồng/ha. Tân Linh là xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc huyện Đại Từ.
Phía Đông giáp xã Phục Linh, huyện Đại Từ, Phấn Mễ, Huyện Phú Lương, phía Tây giáp xã Phú Lạc và xã bản Ngoại, huyện Đại Từ, phía Nam giáp thị trấn Hùng Sơn và xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, phía Bắc giáp xã Động Đạt, huyện Phú Lương. Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 2269,1ha; Trong đó diện tích chè là 599ha; Toàn xã có 8 dân tộc an hem cùng chung sống (Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Dao, Sán Chí, thái, Mường) với tổng số 1. Toàn xã có đến 95% số dân làm chè, trong những năm qua được sự quan tâm của cấp trên và nỗ lực của cán bộ nhân dân trên toàn địa bàn xã nên tình hình kinh tế của xã có nhiều bước phát triển,kinh tế xã hội ổn định,công tác y tế, văn hóa giáo dục tương đối phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững,cơ cấu kinh tế chủ yếu là phát triển về kinh tế đồi rừng, trồng trọt và chăn nuôi.Thực tế cho thấy, cây chè có vai trò rất lớn đối với việc phát triển kinh tế ổn định đời sống nhân dân trong xã. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả về sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chè, chúng ta vẫn chưa khai thác hết vai trò, giá trị và thế mạnh của 3 cây chè.
Mặc dù quỹ đất trồng chè còn tới hàng trăm ha, năng suất chè có thể đạt tới 90 – 120 tạ/ha và cao hơn nữa. Song cây chè chỉ mới đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong giá trị ngành trồng trọt. Mặt khác, người sản xuất còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tập quán sản xuất truyền thống lạc hậu và chậm thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường, quá trình đầu tư còn chưa cân xứng, chưa khoa học. Cơ cấu giống chè còn hạn chế, có rất ít những giống chè có năng suất, chất lượng cao, các giống chè được sử dụng chủ yếu là chè trung du đã có từ lâu đời… Do đó, năng suất chè chưa cao, chi phí giá thành lớn, hiệu quả kinh tế còn thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường kém.
Trước những những thực tế đó, cần phải có sự đánh giá đúng thực trạng, để thấy rõ được các tồn tại, từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất – chế biến – tiêu thụ chè của địa phương. Vì vậy em đã chon đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè giống của các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” để góp phần giải quyết các vấn đề trên. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân sản xuất chè giống mới trên địa bàn xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Qua đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQKT sản xuất cây chè giống mới, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã Tân Linh. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa được về cơ sở lý luận và thực tiễn về HQKT, nâng cao HQKT sản xuất cây chè giống mới. - Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và HQKT sản xuất cây chè giống mới trên địa bàn xã Tân Linh, năm 2015 – 2017. - Đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQKT sản xuất cây chè giống mới xã TânLinh.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Củng cố kiến thức đã học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin kỹ năng nghề nghiệp 1. Ý nghĩa thực tiễn Là tài liệu tham khảo giúp xã Tân Linh xây dựng quy hoạch phát triển sản xuất cây chè cành.
Có ý nghĩa thiết thực cho quá trình sản xuất cây chè cành của xã Tân Linh và đối với các địa phương có điều kiện tương tự. TỔNG QUAN TAI LIỆU 2. Lý luận về hiệu quả kinh tế 2. Khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế a.
Khi đề cập đến khái niệm hiệu quả cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Đó là khả năng thu được kết quả sản xuất tối đa với việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ nhất định. Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. • Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa.Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố giá trị và hiện vật đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp.Muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì phải đồng thời đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Bản chất của hiệu quả kinh tế Khi nghiên cứu về bản chất kinh tế các nhà kinh tế học đã đưa ra những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất chung bản chất của nó. Người sản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là: nhân lực, vật lực, vốn…. Chúng ta tiến hành so sánh kết quả đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thì có hiệu quả kinh tế.Sự chênh lệch này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại. Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế - Biết được mức hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. - Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất nông nghiệp. Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại đạt được hiệu quả kinh tế cao thì để tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ. Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế Hiện nay có 3 phương pháp về hiệu quả kinh tế như sau: • Phương pháp 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra.
H = Q/C Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế Q: khối lượng sản phẩm thu được C: Chi phí bỏ ra Phương pháp này phản ánh rõ rệt trình độ sử dụng nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả. Trên cơ sở đó người ta xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các đơn vị với nhau, giữa các ngành sản phẩm, các địa phương khác nhau trong một thời điểm xác định. •Phương pháp 2: Cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả tăng thêm với chi phí tăng thêm. H = ∆ Q/ ∆ C Trong đó: ∆ Q: Khối lượng tăng thêm 7 ∆ C: Chi phí tăng thêm Phương pháp này giúp chúng ta xác định được hiệu quả của một đồng chi phí đầu tư thêm mang lại là bao nhiêu.
Trên cơ sở đó, xác định được hiệu quả trong quá trình sản xuất, xác định được khối lượng tối đa hóa lợi nhuận. • Phương pháp 3 : xem xét hiệu quả kinh tế trong phần trăm biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất. Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa phần trăm tăng thêm của kết quả thu được và phần trăm tăng thêm của chi phí bỏ ra.