phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Giới thiệu tổng quan. Mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Đánh giá hiệu quả hoạt động khai thác, chế biến bauxite Tân Rai và đề xuất các giải pháp quản lý môi trƣờng theo hƣớng bền vững.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng 1. Điều kiện tự nhiên và môi trường Vị trí địa lý Huyện Bảo Lâm đƣợc thành lập theo Quyết định số 65/QĐ–CP ngày 11–7–1994 của Chính phủ, từ huyện Bảo Lộc chia ra thành 2 đơn vị mới là thị xã Bảo Lộc (nay là thành phố Bảo Lộc) và huyện Bảo Lâm.
Huyện Bảo Lâm nằm trên cao nguyên Lâm Viên, phía bắc giáp tỉnh Đắk Nông, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông giáp huyện Di Linh, phía tây giáp các huyện: Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên và thành phố Bảo Lộc. Với diện tích tự nhiên 146.351,31ha, Bảo Lâm là huyện có diện tích tự nhiên lớn, chiếm 19% diện tích tỉnh Lâm Đồng. Sơ đồ hành chính huyện Bảo Lâm (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường) Huyện có 14 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn Lộc Thắng và 13 xã: Lộc Quảng, Lộc Tân, Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm, Lộc Phú, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam, Tân Lạc và B'lá. Đặc điểm địa hình và lớp phủ thổ nhƣỡng(Nguồn: UBND Huyện Bảo Lâm) Huyện có 3 dạng địa hình chính: núi cao, đồi thấp và thung lũng ven sông.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dạng địa hình núi cao: Là khu vực có độ dốc lớn, chủ yếu là xâm nhập đá granite, dacite,… tuổi jura–creta hoặc các trầm tích (phiến sa, phiến sét,…), diện tích khoảng 59.780 ha(chiếm 40,9% tổng diện tích toàn huyện), phân bố chủ yếu ở khu vực tiếp giáp với Bình Thuận và một số khu vực ở Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm, Lộc Phú. Ở dạng địa hình này phổ biến là các đất đỏ vàng, phần lớn có tầng đất mỏng. Do có hạn chế về độ dốc và tầng dày mà đất ở địa hình này chủ yếu thích hợp cho trồng rừng. Dạng địa hình đồi núi thấp đến trung bình: Là các dải đồi hoặc núi ít dốc, có độ cao trung bình 800m, phần lớn đƣợc cấu thành từ đá phun trào bazan.
Diện tích khoảng 79.110ha (chiếm 53,4% tổng diện tích toàn huyện), phân bố tập trung ở khu vực phía nam, đông nam. Khả năng sử dụng tùy thuộc vào độ dốc, tầng dày, khí hậu và điều kiện tƣới. Ở những khu vực ít dốc có thể trồng những cây hoa màu hoặc bố trí những cây lâu năm nhƣ cà phê, chè, tiêu, cây ăn quả… Dạng địa hình thung lũng: Diện tích: 7.461,31ha (chiếm 4,7% tổng diện tích toàn huyện), phân bố ven các sông, suối lớn. Độ cao phổ biến so với mực nƣớc biển từ 700m trở xuống, hầu hết diện tích thuộc dạng địa hình này là các loại đất phù sa và dốc tụ, nguồn nƣớc mặt khá dồi dào, khá thích hợp với phát triển lúa nƣớc, dâu và các loại cây màu, rau ngắn ngày.
Về thổ nhƣỡng, hầu hết diện tích đất Bảo Lâm là nhóm đất đỏ bazan, rất thích hợp với các cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là cây chè và cà phê. Ngoài ra, còn có 2 nhóm đất chiếm tỷ lệ rất nhỏ là nhóm đất phù sa sông suối (có thể trồng dâu, cây lƣơng thực, thực phẩm, cây ăn quả) và nhóm đất dốc tụ dƣới chân sƣờn đồi (có thể trồng cây màu) Thời tiết và khí hậu(Nguồn: UBND Huyện Bảo Lâm) Huyện Bảo Lâm nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhƣng do ảnh hƣởng của độ cao địa hình nên khí hậu có những đặc trƣng chính nhƣ sau: (i)Nhiệt độ trung bình năm thấp, bình quân là 22,4oC, biên độ dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn (10,3oC), khá thích hợp với các loại cây có nguồn gốc á nhiệt đới và nhiệt đới nhƣ: chè, cà phê, dâu, bơ, các loại rau; (ii) Lƣợng mƣa hàng năm lớn, trung bình từ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.767mm, có năm cao lên đến 2. Cƣờng độ mƣa lớn thƣờng tập vào tháng 07 và 08, tháng mƣa nhiều tới 412mm, mùa mƣa kéo dài. Nhiệt độ thấp nên cƣờng độ bốc hơi trong mùa khô không lớn, nhờ lợi thế này mà tại huyện Bảo Lâm có thể trồng các cây lâu năm trên đất có tầng canh tác mỏng hơn so với các vùng khác ở cao nguyên Đắk Lắk và Đông Nam Bộ.
Điểm hạn chế trong đặc điểm khí hậu Bảo Lâm là nắng ít, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sƣơng mù, cƣờng độ mƣa lớn và tập trung nên dễ gây xói mòn đất. Mạng lƣới thủy văn (Nguồn: UBND Huyện Bảo Lâm) Mặc dù là khu vực không có nhiều núi cao, nhƣnghuyện Bảo Lâm lại là vùng phát sinh nhiều dòng suối lớn và là khu vực đầu nguồn sông La Ngà.Các dòng suối chính của huyện nhƣ: Đa Tong Kriong, Đa Dung Krian, Đạ Riam, Đạ Bình. và tập hợp nhiều suối nhỏ khác đều đổ vào sông La Ngà. Ở phía bắc huyện cũng có nhiều dòng suối lớn nhƣ: Đạ Pou, Đạ Siat, Đạ Kooi, Đạ Sou, với rất nhiều nhánh suối nhỏ tập trung đổ vào sông Đa Dâng.
Tài nguyên khoáng sản(Nguồn: UBND Huyện Bảo Lâm) Bảo Lâm là nơi tập trung chủ yếu nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh Lâm Đồng. Tài nguyên khoáng sản của huyện có giá trị kinh tế lớn, trong đó bauxite là tài nguyên chiếm tỷ lệ lớn nhất với trữ lƣợng gần 1 tỉ tấn. Trên địa bàn huyện:Than bùn phân bố rải rác, trữ lƣợng khoảng 800 ngàn tấn, nhiệt lƣợng không cao, có khả năng khai thác làm phân bón với công suất 50.000tấn/năm; Đá ốp lát ở xã Lộc Thắng đƣợc khai thác thuộc loại Gabrodiabaz có màu sáng, do độ nguyên khối thấp (<0,6m3) nên hiệu quả khai thác kém; Thiếc sa khoáng kích thƣớc hạt nhỏ, hàm lƣợng trung bình, trữ lƣợng không lớn và lẫn trong trầm tích Aluvi, phân bố tại các bãi bồi và trên các bậc thềm tại Lộc Bắc, Lộc Lâm, Lộc Tân; Đá xây dựng hiện đang đƣợc khai thác với quy mô nhỏ tại đèo B40, Lộc Thành, Tân Lạc, sản lƣợng khai thác 1.Ngoài ra còn có khai thác, chế biến cao lanh, sản lƣợng khai thác năm 2014 đạt 1.200 tấn; khai thác cát, đá làm vật liệu xây dựng (đạt 5. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm kinh tế - xã hội Dân số, dân tộc, dân cƣ (Nguồn: UBND Huyện Bảo Lâm) Dân số toàn huyê ̣n là 116.122 ngƣời, mâ ̣t độ dân số 75 ngƣời/km2. Hiện trên địa bàn huyện có 19 dân tộc bản địa sinh sống với 34.913 nhân khẩu; trong đó: dân tộc Châu mạ, K'ho chiếm 78,5% đồng bào dân tộc bản địa. Bên cạnh đó, Bảo Lâm là huyện có nhiều tôn giáo khác nhau đồng thời tồn tại (đạo Phật, Thiên chúa giáo, đạo Hồi), tổng số tín đồ tôn giáo khoảng 54.307 ngƣời, chiếm tỷ lệ 47,64% dân số. Đồng bào dân tộc tại chỗ có quá trình sinh sống từ rất lâu đời.
Ở xã Lộc Bắc đã phát hiện đƣợc 2 bộ đàn đá. Các nhà khảo cổ học xác định những hiện vật này có niên đại cách đây trên 2. Đồng bào dân tộc ở các xã Lộc Bảo, Lộc Bắc còn lƣu giữ nếp sống trong các nhà dài bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống trong một gia đình lớn. Nhà của ngƣời K'ho (trái) và hình ảnh các em học sinh đồng bào dân tộc đến trƣờng (phải), huyện Bảo Lâm (Nguồn: Internet).
Sau này, bổ sung vào thành phần cƣ dân là các đợt di dân đến vào nhiều thời kỳ khác nhau. Đợt di dân đông đảo đầu tiên là vào đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp khai thông quốc lộ 20, tiến hành lập các đồn điền với gần 20.000ha chè, cà phê. Công cuộc khai hoang lớn đầu tiên đã đƣa hàng chục ngàn lao động đến và trải qua nhiều thế hệ gắn bó với vùng đất này. Sau đó, trong những năm đầu của thập kỷ 80, khi các nông trƣờng thuộc Liên hiệp các xí nghiệp dâu tằm tơ Việt Nam đƣợc thành lập, đã có nhiều đợt lao động và các hộ dân đi khai hoang xây dựng kinh tế mới đƣợc chuyển đến vùng Bảo Lâm.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển kinh tế(Nguồn: UBND Huyện Bảo Lâm) Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 huyện Bảo Lâm cho thấy:tốc độ tăng trƣởng bình quân 15,5%; Tỷ trọng ngành nông – lâm thủy sản chiếm 50,8% trong cơ cấu kinh tế của huyện; Công nghiệp, xây dựng chiếm 33,5%; Dịch vụ chiếm 15,7%. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Bảo Lâm giai đoạn 2005-2014. Nguồn: Tư liệu Văn phòng UBND huyện Bảo Lâm Quá trình chuyển dịch cơ cấu các khu vực diễn ra tƣơng đối nhanh. Tổng sản phẩm trên địa bàn huyện bình quân đầu ngƣời đạt 52,6 triệu đồng/năm.
Thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt 38,64 triệu đồng/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 166,4 triệu USD [29]. Tổng sản phẩm tạo ra từ khu vực Nông - Lâm - Thuỷ sản giai đoạn 2005-2010 giảm 20.87%, tuy nhiên tổng sản phẩm tạo ra từ khu vực này vẫn chiếm tỷ trọng cao (trên 50%)[29]. Điều này cho thấy nền kinh tế của huyện vẫn còn mang tính thuần nông, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra còn chậm.
Bảo Lâm đƣợc xem là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất tỉnh Lâm Đồng. Toàn huyện có tổng diện tích gieo trồng 45.591,4ha, trong đó có 27.500ha cà phê, 13.470ha cao su, 2.232ha cây ăn quả. Mỗi năm, huyện Bảo Lâm thực hiện ghép cải tạo hàng ngàn hecta cà phê, chè chất lƣợng cao, diện tích đƣợc thu hoạch hàng năm cũng tăng lên tƣơng ứng. Tuy nhiên, do công nghiệp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chế biến, thƣơng nghiệp, dịch vụ chƣa phát triển nên giá trị tổng sản phẩm thu nhập chƣa cao.
Tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản năm 2014 trên địa bàn huyện khoảng 4.256 tỉ đồng, giá trị sản xuất bình quân trên một đơn vị diện tích (ha) đạt 95 triệu đồng [29]. Trên địa bàn huyện, tỷ lệ che phủ rừng khoảng 60%. Ngoài diện tích rừng đƣợc nhà nƣớc giao cho 2 công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ Đambri quản lý bảo vệ, còn có 55 doanh nghiệp, cá nhân đƣợc giao và cho thuê đất, rừng để quản lý bảo vệ rừng và sản xuất kinh doanh, với diện tích là 17. Toàn huyện có 106ha ao, hồ nuôi trồng thuỷ sản, sản lƣợng thu hoạch đạt trên 398 tấn[28].