Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Định nghĩa Cải tạo, phục hồi môi trường Theo Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản thì Cải tạo, phục hồi môi trường được định nghĩa như sau: Cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản là hoạt động đưa môi trường, hệ sinh thái (đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, thảm thực vật,…) tại khu vực khai thác khoáng sản và các khu vực bị ảnh hưởng do hoạt động khai thác khoáng sản về trạng thái môi trường gần với trạng thái môi trường ban đầu hoặc đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường và phục vụ các mục đích có lợi cho con người. Công tác cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác lộ thiên trên thế giới Hoàn thổ là một quá trình nhằm hạn chế và khắc phục các tác động của ngành khai thác mỏ lên môi trường.
Hoàn thổ là một phần quan trọng trong quá trình phát triển các nguồn nguyên liệu khoáng phù hợp với các nguyên tắc của phát triển bền vững - được định nghĩa đầy đủ trong Báo cáo Brundtland của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển. Định nghĩa đơn giản về phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của xã hội đồng thời bảo tồn hệ sinh thái vì những lợi ích lâu dài.[16] Công việc cải tạo và phục hồi môi trường là một lĩnh vực mới mẻ trong công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Do vậy, việc nghiên cứu, vận dụng, ứng dụng các thành tựu khoa học, các kinh nghiệm đã có trong công tác cải tạo và phục hồi môi trường của các nước trên thế giới là rất cần thiết để áp dụng cho 5 phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu đánh giá một số giải pháp có tính tiên tiến, hiệu quả và dễ áp dụng cho điều kiện nước ta.
Tại Nga Tại Nga, thử nghiệm đầu tiên về phục hồi đất đai bằng phương pháp sinh học được thực hiện giữa những năm 40 của Thế kỷ XX ở vùng Đônbat trên các mỏ khai thác lộ thiên và hầm lò của nước cộng hòa Ucraina. Tại các mỏ khai thác lộ thiên người ta tiến hành bóc các lớp đất đá màu trước khi tạo tuyến khai thác. Lớp đất đá màu này được lưu giữ ở bãi thải để sử dụng sau này cho việc phục hồi đất. Trên các bãi thải của mỏ lộ thiên Zapôrôxki đã tiến hành thử nghiệm trồng các loại cây có giá trị kinh tế như nho, mận.
Đến những năm 70, trồng cây trên các bãi thải mỏ đã được phổ biến. Năm 1977, diện tích trồng cây trên các bãi thải đã lên tới 370 ha tại mỏ Krivôrôxki. Tại Đức Ở nước Đức: Ngoài việc cải tạo, phục hồi môi trường trả lại đất đai cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, người ta chú ý đến hướng cải tạo, phục hồi môi trường mới tạo nên trên phần lãnh thổ trước đây đã khai thác thành các khu vực nghỉ dưỡng: các hồ chứa nước, các công viên cây xanh, sân thể thao… Cùng với phương thức truyền thống, trên các khu vực trước đây tiến hành khai thác mỏ người ta xây dựng các khu nghỉ ngơi cho dân thành phố và nông thôn. Ở vùng Buinten, tại những chỗ bằng phẳng trước đây do công tác khai thác mỏ để lại đã được cải tạo, phục hồi môi trường thành những nơi có cảnh quan phong phú, hiện đại.
Những bãi thải trở thành những đồi gò phủ đầy thảm thực vật; các hồ lắng trước đây được viền quanh bằng bụi cây và trồng cây thân gỗ trên đó. Phần lớn đất đai được phủ đầy và chuyển sang mục đích phục vụ nông nghiệp. Tại Anh Từ năm 1953 ở nước Anh đã có những quy định về phục hồi đất đai như: 6 - Trước khi tiến hành khai thác khoáng sản cần phải bóc lớp đất đá dày 30 cm và bóc lớp đất dưới lớp trồng cây 85 cm, lưu giữ riêng tại khu vực khác. Sau khi hoàn thành công tác khai thác, lớp đất trên được sử dụng để hoàn trả lại mặt bằng các khu vực đã sử dụng cho khai thác, trước đó khu vực này phải được làm sạch đất đá, sét và bùn.
- Khi tiến hành chuẩn bị cho công tác khai thác người ta tiến hành đổ các lớp đất, đá hộc sao cho chúng có thể bảo vệ khu vực xung quanh khỏi tiếng ồn và bụi. Trên các khu vực tiến hành công tác khai thác mỏ cần phải xây dựng các khu rửa xe… - Các lớp đất đá được bóc lên và đánh đống theo từng tầng khác nhau, theo thứ tự gối lên nhau. Việc đổ thải như vậy tránh được việc chồng lấp các lớp đất lên nhau, mất lớp đất màu. Khi kết thúc khai thác, thực hiện san lấp hoàn thổ bằng chính các lớp đất đá đã bóc theo thứ tự ngược lại.
Sau mỗi lớp đất, dùng xe chuyên dụng đầm nén chặt khu vực san lấp. Sau quá trình san lấp, các hoạt động hoàn nguyên và tái tạo cảnh quan được thực hiện. Biện pháp hoàn nguyên và tái tạo cảnh quan thường được sử dụng là trồng cây, tạo cảnh quan nhằm các mục đích xây dựng các công trình công cộng. Tại Mỹ - Mỹ là một cường quốc khai thác về khoáng sản, tại đây lần đầu tiên tiến hành công việc phục hồi đất đai vào năm 1919.
Ở một số mỏ lộ thiên thuộc bang Ohio, từ năm 1941 đã bắt đầu công tác cải tạo, phục hồi môi trường dạng giản đơn là san gạt mặt dốc bãi thải để trồng cây. Phần lớn đất đai được phủ đầy và chuyển sang mục đích phục vụ nông nghiệp. - Một số các Luật về môi trường đã được ban hành tại cấp quốc gia bao gồm Luật về chính sách môi trường quốc gia (1969), Luật về bảo tồn và khôi phục nguồn tài nguyên (1980)…. Liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản, chính phủ liên bang đã thông qua Luật về kiểm soát và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản (1977) để kiểm soát các thiệt hại môi trường từ hoạt 7 động khai thác và các hoạt động phục hồi môi trường trong khai thác.
Ngoài ra, chính phủ liên bang còn quy định các hoạt động khai thác khoáng sản tại các đất trồng rừng được kiểm soát bởi tổ chức dịch vụ về rừng của Mỹ và hoạt động khai thác trong khu vực đất công cộng được kiểm soát bởi cơ quan quản lý đất đai. Công tác cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác tại Việt Nam Trước năm 1996, hoàn thổ phục hồi môi trường ở Việt Nam trong khai thác khoáng sản vẫn còn là vấn đề mới mẻ cả về cơ chế chính sách, công nghệ và giải pháp tổ chức thực hiện. Nhiều mỏ sau khi kết thúc khai thác vẫn để lại nguyên trạng đất đá ngổn ngang, ngay cả việc khôi phục lại địa hình địa mạo cũng không được tiến hành. Vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường chưa được đặt ra một cách nghiêm túc đối với các hoạt động khai thác khoáng sản.
Từ khi Luật Khoáng sản ra đời, vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường được đề cập nhiều hơn và được xem như một nhiệm vụ bắt buộc đối với các hoạt động khai thác khoáng sản. Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu thân thiện với môi trường; thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tổ chức cá nhân được phép hoạt động khai thác khoáng sản phải chịu mọi chi phí và thực hiện hoàn thổ phục hồi môi trường sau khi kết thúc từng giai đoạn hoặc kết thúc toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản. Theo Luật Bảo vệ môi trường các dự án mới về khai thác và chế biến khoáng sản đều phải lập báo cáo ĐTM, trong đó phải đề xuất được các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của dự án cũng như các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường sau khi kết thúc các hoạt động khai thác khoáng sản.
Các giải pháp về bảo vệ môi trường và hoàn thổ phục hồi môi trường, các yêu cầu về kinh phí bảo vệ môi trường và hoàn thổ phục hồi môi trường phải được xác định trong báo cáo ĐTM, và tiến hành ký quỹ phục hồi 8 môi trường trước khi được cấp giấy phép khai thác. Kết quả điều tra hiện trạng môi trường và hoạt động phục hồi môi trường tại các vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam cho thấy công tác hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản còn chưa được chú trọng thực hiện đúng mức, thiếu chế tài cụ thể và thiếu những nghiên cứu để đưa ra được mô hình và quy trình hoàn thổ thích hợp. Việc triển khai công tác hoàn thổ phục hồi môi trường tại các cở sở khai thác còn chậm và bị xem nhẹ. Các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường được áp dụng tại các vùng khai thác khoáng sản còn rất hạn chế, phần lớn đó là các giải pháp đơn giản về mặt kỹ thuật và chi phí thấp.
Có thể tạm chia các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường theo hai nhóm như sau: 1. Công tác cải tạo, phục hồi môi trường được áp dụng tại các dự án hoạt động sau khi có Luật Bảo vệ môi trường và Luật Khoáng sản Các dự án khai thác khoáng sản sau khi có Luật Bảo vệ môi trường và Luật Khoáng sản đã chú ý đến việc thực hiện cải tạo phục hồi môi trường ở các mức độ khác nhau, trong đó có nhiều mỏ thực hiện tương đối tốt công tác cải tạo, phục hồi môi trường. Đối với các dự án khai thác lộ thiên các vỉa quặng mỏng với lớp đất đá phủ không dày đã tiến hành cải tạo phục hồi môi trường song song với quá trình khai thác. Đó là các mỏ khai thác và chế biến quặng inmenit thuộc Hiệp hội Titan Việt Nam như Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Phát triển khoáng sản 4, Công ty khoáng sản thanh niên Cửa Hội, Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh, Công ty khoáng sản Thừa Thiên Huế,… Nhìn chung sau khi trồng cây ở các đơn vị này được chăm sóc trong những năm đầu và bảo đảm cho cây cối có thể tự phát triển được.