Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Cơ sở lý luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản 1. Khái niệm về khoáng sản, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản a) Khoáng sản Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ. Theo tính chất của công dụng, khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: Khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước.
HĐKTKS là các hoạt động thăm dò khoáng sản, khai thác khoáng sản hoặc chế biến khoáng sản. b) Bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, vì vậy cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Môi trường sử dụng trong lĩnh vực quản lý là khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Điều 3 Luật BVMT năm 2014).
Con người, sinh vật trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo. Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất, trong đó những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn cả. Những yếu tố này được coi là những thành phần 7 cơ bản của môi trường. Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người.
Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định. Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo. Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình, như: khai thác, chế biến khoáng sản, thủy điện, công trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật. BVMT trong HĐKTKS có thể hiểu là những hoạt động cải thiện môi trường khi thực hiện khai thác khoáng sản nhằm giữ cho môi trường luôn trong lành, cân bằng sinh thái, giảm thiểu và ngăn chặn suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
* QLNN về BVMT trong HĐKTKS: QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. QLNN về môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững KT-XH quốc gia. QLNN về BVMT trong HĐKTKS là QLNN về môi trường đối với các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; các tổ chức, cá nhân HĐKTKS phải thực hiện các thủ tục hành chính và phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường, như: (1) Thu gom và xử lý nước thải theo quy định của pháp luật; (2) Thu gom, xử lý chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải rắn; 8 (3) Tìm kiếm biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh; (4) Xây dựng kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; (5) Ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật; (6) Khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp, người dân và môi trường. Đặc điểm của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Tác động môi trường của hoạt động khai thác mỏ bao gồm: Xói mòn biến đổi địa mạo, sụt lún đất, sạt lở taluy, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm đất, ô nhiễm và suy giảm nước ngầm, nước mặt do hóa chất từ chế biến quặng.
Trong nhiều trường hợp, rừng ở vùng lân cận còn bị chặt phá để lấy chỗ chứa chất thải mỏ; phá bỏ rừng, thảm thực vật bóc lớp đất mặt màu mỡ để khai thác khoáng sản. Bên cạnh việc hủy hoại môi trường, ô nhiễm do hóa chất cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân địa phương, ở những vùng hoang vu, khai khoáng có thể gây hủy hoại hoặc nhiễu loạn hệ sinh thái và sinh cảnh; còn ở nơi canh tác thì hủy hoại hoặc nhiễu loạn đất trồng cấy và đồng cỏ. BVMT là yếu tố quan trọng phát triển trong chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Các HĐKTKS đều có những ảnh hưởng nhất định đối với môi trường tự nhiên, cảnh quan khu vực khai thác thay đổi, môi trường nước mặt, nước ngầm, đất, ngay cả môi trường không khí khu vực khai thác, lẫn các khu vực lân cận, có thể bị nhiễm bẩn; BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng là một phần quan trọng trong tổng thể các hoạt động BVMT.
Khoáng sản có vai trò rất quan trọng và là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt, phục vụ sinh hoạt và bảo vệ sức khỏe con 9 người. HĐKTKS góp phần quan trọng trong hoạt động xuất khẩu để thu ngoại tệ, đối ứng để nhập khẩu một số hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng trong nước; Thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào HĐKTKS góp phần phát triển kinh tế, xã hội; Tăng thu ngân sách quốc gia; Tạo việc làm cho người lao động; Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác phục vụ HĐKTKS. Ngành công nghiệp khoáng sản là một ngành chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế; là sản phẩm xuất khẩu chính, đem lại nguồn thu ngân sách lớn của nhiều quốc gia, điển hình như công nghiệp khai dầu mỏ ở các nước Tây Á, thác đồng ở Chilê, công nghiệp than đá ở Ucraina, Bruei, Cooet, Venezuela. HĐKTKS diễn ra rất sôi động, phức tạp và nguy cơ tác động đến môi trường là rất lớn.
BVMT trong HĐKTKS có các đặc điểm sau: - Sự tác động đến môi trường từ HĐKTKS là rất lớn và không thể tái tạo đối với các khoáng sản sau khi được khai thác, sử dụng. Công tác BVMT phải được quản lý chặt chẽ và trách nhiệm BVMT thuộc về cơ quan QLNN có thẩm quyền và trách nhiệm các tổ chức, cá nhân tham gia HĐKTKS. Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý mọi hoạt động của đời sống xã hội, HĐKTKS theo sự định hướng, quy hoạch phát triển và cấp giấy phép HĐKTKS; Nhà nước thiết lập và trao quyền cho các cơ quan thực hiện chức năng QLNN về môi trường trong HĐKTKS. Trong phạm vi thẩm quyền được giao, các cơ quan QLNN có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nhằm quản lý tốt công tác BVMT trong HĐKTKS.
Các tổ chức, cá nhân HĐKTKS là chủ thể, tác nhân trực tiếp gây ra những tác động đến môi trường, do đó các chủ thể này có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nhằm BVMT trong HĐKTKS; Trước khi thực hiện HĐKTKS, tổ chức cá nhân phải lập các biện pháp BVMT theo quy định của pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. - BVMT trong HĐKTKS được Nhà nước quy định cụ thể thông qua văn bản QPPL về BVMT nói chung và BVMT trong hoạt động khai thác 10 khoáng sản nói riêng; cũng như các quy định cụ thể về HĐKTKS, cấp phép HĐKTKS, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký kế hoạch BVMT, phê duyệt phương án cải tạo và phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản và thanh tra, kiểm tra HĐKTKS đồng thời tổ chức thực hiện BVMT trong HĐKTKS để phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ sự cố, vi phạm các quy định về BVMT. - Tác động môi trường trong HĐKTKS có phạm vi ảnh hưởng rộng vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đến môi trường; sự tác động rất phức tạp và có tác động ảnh hưởng lâu dài đến môi trường. BVMT trong HĐKTKS cần phải được thực hiện đồng bộ, khoa học, chặt chẽ và đồng bộ; ngoài sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, sự chấp hành công tác BVMT của các tổ chức, cá nhân HĐKTKS thì cần có sự tham gia giám sát của Nhân dân.
- Quá trình BVMT diễn ra thường xuyên, liên tục kể cả thời gian lâu dài sau khi kết thúc HĐKTKS; chi phí BVMT là rất lớn; công tác BVMT rất phức tạp, khó khăn. BVMT trong HĐKTKS cần thiết phải có sự đầu tư về kinh phí, khoa học kỹ thuật, nguồn lực có trình độ chuyên môn. Đồng thời, phải có sự phân công, phân phân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, giữa các cấp; cũng như sử dụng kết hợp nhiều biện pháp kinh tế, chính trị, tuyên truyền, giáo dục, pháp lý trong hoạt động BVMT. - Các hoạt động khai thác khoáng sản có nguy cơ gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh; việc thực hiện công tác BVMT trong HĐKTKS là rất cần thiết, quan trọng nhằm giảm thiểu tối đa sự tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn; làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất; làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự cố môi trường; tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế - xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động.
11 - Việc thực hiện tốt công tác BVMT trong HĐKTKS chính là đảm bảo sự phát triển bền vững và sử dụng có trách nhiệm, có hiệu quả tài nguyên khoáng sản tự nhiên.