CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Những vấn đề về lý luận chung về hiệu quả kinh tế 1. Khái niệ m và ý nghĩa củ a hiệ u quả kinh tế * Khái niệm hiệu quả kinh tế -Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế,tuy nhiên chúng ta có thể tóm tắt thành 3 quan điểm sau: + Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (Vốn,Lao động. Ưu điểm: Phản ánh rõ việc sử dụng nguồn lực thể hiện thông qua chi phí sản xuất[1].
Nhược điểm: Không phản ánh được quy mô của HQKT, có thể trong thực tiễn tỷ lệ có đạt cao, song mức độ đạt được không đáng kể do lượng tuyệt đối nhỏ và lợi ích kinh doanh mang lại không nhiều. Theo quan điểm ngày cũng chưa phân tích được sự tác động, sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên [1]. +Quan điểm thứ hai:Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí đã bỏ ra để được kết quả đó[1]. HQKT = Kết quả sản xuất – chi phí Ở đây nó phản ánh quy mô HQKT song không rõ rệt và chưa phản ánh hết mong muốn của nhà sản xuất kinh doanh, chưa xác định được năng suất lao động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của các cơ sở sản xuất có lợi nhuận như nhau[1].
+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí hay quan hệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung[1]. Có nghĩa là so sánh giữa 2 kỳ về chất lượng kết quả, chi phí (mỗi loại cây, con trên một vụ/diện tích.) nhưng vẫn chưa đầy đủ bởi vì trong thực tiễn kết quảsản xuất đạt được, luôn là hệ quả của chi phí có sẵn cộng với chi phí bổ sung mà ở mức chi phí có sẵn khác nhau thì HQKT của chi phí bổ sung cũng sẽ khác nhau [1]. 2 Tóm lại, các quan điểm về HQKT cuối cùng đều có chung một quan điểm đó là sự so sánh giữa: - Toàn bộ yếu tố đầu vào và toàn bộ yếu tố đầu ra. - Phần tăng thêm tuyệt đối (hoặc tương đối) của yếu tố đầu ra.
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và các phương thức quản lý.Nó được thể hiện bằng các hệ thống chỉ tiêu thống kê, nhằm mô tả các chỉ tiêu cụ thể của chính sách phù hợp với yêu cầu xã hội [2]. HQKT là mô tả các chỉ tiêu nhưng không phải là mô tả chỉ tiêu cuối cùng mà là mô tả chỉ tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Một phương án, một giải pháp HQKT cao là phải đạt tương quan tương đối, tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư. Việc xác định HQKT phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ giữa 2 đại lượng trên và thấy được tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn nhất định.
* Ý nghĩa HQKT HQKT cho ta thấy được: - Mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra. - So sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. - Từ quan hệ tương đối, tuyệt đối thì HQKT được thể hiện bằng các giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận. Muốn hiểu rõ hơn về HQKT thì chúng ta cần phân biệt và thấy được mối quan hệ giữa HQKT với hiệu quả xã hội (HQXH) và hiệu quả môi trường (HQMT).Hay tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là mức đạt được các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường.
+ HQXH là so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra. + HQMT (phản ánh môi trường sinh thái) là môi trường chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường, của các loại vật chất trong môi trường. Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất chính là nội dung HQKT và HQKT được xác định bởi mục tiêu chất lượng tốt nhất. Khi đánh giá HQKT phải xem xét cả về mặt không gian và thời gian để hiệu quả đạt được đảm bảo lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, không làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội.Bả n chấ t củ a hiệ u quả kinh tế Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đó là sự thoả mãn ngày càng tăng về nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.Để làm rõ bản chất của HQKT trước hết cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa kết quả và HQKT.
- Kết quả kinh tế: Phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh (có thể tốt hoặc xấu). - HQKT: được xác định bởi tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi phí bỏ ra để có kết quả đó hay nó chính là mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí của nền sản xuất. Nhìn chung khuynh hướng phát triển kinh tế của các quốc gia là phát triển theo chiều sâu, có nghĩa là phát triển một nền kinh tế với các nguồn lực có hạn có thể sản xuất ra một lượng sản phẩm có giá trị sử dụng cao nhất, với mức hao phí lao động thấp nhất, hoặc mức tiết kiệm về chi phí các nguồn lực, khi sản xuất ra một khối lượng nông sản nhất định.Điều đó càng chứng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra.Vai trò chăn nuôi gà Trong nông nghiệp có hai ngành chính đó là trồng trọt và chăn nuôi. Ngày nay do sự phát triển của kinh tế, thu nhập và đời sống của nhân dân ngày một tăng do đó cơ cấu bữa ăn hàng ngày của người dân cũng dần có sự thay đổi.
Ngàynay tỷ trọng về lương thực trong bữa ăn càng có xu hướng giảm xuống nhường chỗ cho các sản phẩm từ chăn nuôi có tỷ lệ đạm cao. Do đó vai trò của ngành chăn nuôi ngày càng tăng lên. Trong đó theo Bộ NNPTNT, mỗi năm ngành chăn nuôi gia cầm nước ta có thể cung ứng ra thị trường trên 1 triệu tấn thịt và 8 tỷ quả trứng.Theo số liệu điều tra vào tháng 10/2016 của Tổng cục Thống kê, đàn gia cầm cả nước đã đạt khoảng 361,7 triệu con tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà đạt 277,2 triệu con tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015. So sánh các số liệu qua từng năm có thể thấy ngành chăn nuôi gia cầm nước ta tăng trưởng rất nhanh.
Tổng sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng năm 2016 đạt khoảng 961.600 tấn tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước [7]. 4 Những năm gần đây, xu hướng chọn thịt gà để cung cấp đạm động vật cho bữa ăn hàng ngày vì nhiều dưỡng chất, giá thành rẻ, tiết kiệm được nguồn thức ăn chăn nuôi, nguồn nước.ngày càng tăng. Phát triển chăn nuôi gà có vai trò quan trọng.Chăn nuôi gà cung cấp thực phẩmcó giá trị dinh dưỡng rất cao và rất cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người.Chăn nuôi gà cung cấp thịt,trứng phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Khi chăn nuôi gà phát triển,một phần nào đó sẽ giúp cho cho các ngành công nghiệp chế biến phát triển theo.
Phát triển chăn nuôi gà còn giúp tận dụng tốt những sản phẩm từ trồng trọt như ngô,thóc. tận dụng được các phế phẩm trong sinh hoạt hàng ngày để tạo ra các sản phẩm trong sinh hoạt hàng ngày để tạo ra các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao phục vụ cho đời sống con người. Khi phát triển chăn nuôi gà, các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt có giá trị kinh tế thấp sẽ đựơc dùng làm thức ăn chăn nuôi. Điều này làm tăng giá trị sản xuất cho ngành trồng trọt và tạo ra cho xã hội một lượng sản phẩm chăn nuôi có giá trị dinh dưỡng cao rất cần thiết cho con người.
Chăn nuôi gà còn cung cấp một lượng phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt. Trong nông nghệp có hai ngành chính đó là trồng trọt và chăn nuôi, hai ngành này có mối liên hệ hữu cơ hỗ trợ nhau cùng phát triển. Trong những năm vừa qua, do sự tăng trưởng nhanh của dân số, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực đã gây nên một sức ép rất lớn cho ngành trồng trọt. Điều này dẫn đến việc sử dụng một cách ồ ạt các chất hoá học nhằm làm tăng năng suất cây trồng đã làm cho tài nguyên đất bị suy giảm một cách quá mức dẫn đến kạn kiệt.
Phân hữu cơ từ phân gia cầm hoặc gia súc đã giúp bù đắp một phần chất mùn rất lớn bị con người khai thác thông qua quá trình sản xuất. Phân hữu cơ làm tăng độ mùn cho đất, cải tạo đất. Như vậy để có một ngành nông nghiệp phát triển bền vững thì không thể xem nhẹ vai trò của ngành chăn nuôi trong tổng thể phát triển của ngành nông nghiệp nói chung. Ngoài ra hiện nay,chăn nuôi gà còn cung cấp cho nền kinh tế quốc dân một khối lượng sản phẩm xuất khẩu, góp phần làm tăng trưởng kinh tế.
Dựa vào lợi thế so sánh, nước ta xuất khẩu những sản phẩm từ chăn nuôi gà có ưu thế trên thị trường thế giới như: Gà Đông Tảo,gà ri, tre, gà mía, gà Hồ. nhằm thu ngoại tệ về cho đất nước. 5 Gà là giống gia cầm tương đối dễ nuôi so với các loại gia cầm có vòng đời ngắn,quay vòng nhanh nên có thể áp dụng nuôi ở các hộ gia đình các trang trại và cả xí nghiệp doanh nghiệp nông nghiệp. Nhằm góp phần vào phát triển kinh tế hộ gia đình cải thiện đời sống nhân dân đồng thời phát triển kinh tế quốc dân.Yêu cầu kỹ thuật nuôi gà bằng đệm lót sinh học.
Làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà đang ngày càng được áp dụng rộng rãi nhờ nâng cao năng suất, giảm các bệnh thường gặp và tiết kiệm chi phí công chăm sóc. * Đệ m lót sinh họ c Đệm lót sinh học là hỗn hợp giữa chất trộn có thể là trấu, mùn cưa, lõi bắp, vỏ bào,… kết hợp men vi sinh vật có lợi dùng để lót nền chuồng trong chăn nuôi.