MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai - cội nguồn của mọi hoạt động sống của con người. Trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đất luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng, đất là nguồn đầu vào của nhiều ngành kinh tế khác nhau, là nguồn tư liệu sản xuất của ngành nông nghiệp. Không những thế, đất đai còn là không gian sống của con người.
Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống với những đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc. Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần được qui về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền, nghề phụ, nghề thủ công. Việt Nam còn là một đất nước phương đông với nhiều nét văn hóa truyền thống nổi tiếng được bạn bè trên thế giới biết đến và ngợi ca. Bên cạnh những nét văn hóa trong giao tiếp ứng xử, nét văn hóa truyền thống chơi hoa đào dịp Tết cũng tạo nên nét văn hóa riêng biệt mang đậm chất dân tộc.
Nghề trồng hoa nói chung và trồng hoa đào nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong việc cải tạo môi trường cảnh quan và còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Tuy nhiên, quá trình phát triển nghề trồng đào còn hạn chế do chưa có quy hoạch cụ thể, việc trồng đào của người dân vẫn mang tính chất tự phát, người dân trồng nhiều loại đào khác nhau, nên việc đánh giá hiệu quả kinh tế cũng như những thuận lợi và khó khăn của cây trồng này chưa đạt hiệu quả cao, rất khó có thể phát triển với quy mô lớn. Chính vì vậy nhóm nghiên cứu đề xuất đề tài Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi đất trồng cây hàng năm sang trồng hoa đào tại địa bàn phường Cam Giá thành phố Thái Nguyên. Nhằm tìm loại cây trồng và phương thức canh tác cho hiệu quả sử dụng đất cao nhất, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát So sánh hiệu quả kinh tế của việc trồng đào so với việc trồng một số cây hàng năm từ đó xác định giống đào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng đào so với việc trồng một số cây hàng năm khác ở địa phương; - Đề xuất các giải pháp cải thiện để phát triển giúp dân phát triển bền vững nghề trồng đào. Yêu cầu của đề tài - Tuân thủ quy định của pháp luật.
- Đảm bảo sự thống nhất quản lí nhà nước về đất đai. - Số liệu thu thập phải trung thực, chính xác, khách quan. - Những biện pháp, kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với địa phương. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học nghiên cứu 2. Cơ sở lý luận của nghiên cứu Hoa Đào Cam Giá là sản phẩm làm đẹp cho đời, là món ăn tinh thần và thú chơi tao nhã của người Việt Nam song lại hạn chế về thời vụ bán hàng, chỉ duy nhất một lần trong năm vào dịp tết đến xuân về. Cơ sở thực tiễn của nghiên cứu Nghề trồng hoa đào tại phường Cam Giá, Thành phố Thái Nguyên mới hình thành khoảng hai chục năm trở lại đây. Dù không có những thế uốn tỉa quá công phu nhưng đào Cam Giá đẹp bởi vẻ tự nhiên tươi tắn, đặc biệt là thắm sắc và bền hoa.
Vì thế, đào Cam Giá khoảng chục năm nay được nhiều người săn đón. Những cánh đào trồng trên "đất thép" này có thể trưng hết tháng Giêng mà cành vẫn chi chít quả xanh non xem lẫn những nụ hoa mập mạp, đỏ thẫm, lá lộc vẫn tươi nguyên như vừa được cắt từ vườn. Khái quát vấn đề nghiên cứu 2. Đất đai và một số lý luận về đất đai 2.
Khái niệm về đất đai Theo các nhà khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó. Còn “Đất đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Giả thuyết Trái đất được hình thành như thế nào và có từ bao giờ cũng là vấn đề con người đã từng dày công nghiên cứu. Sự sống xuất hiện trên trái đất và tác động vào nó là một quá trình tiến hóa không ngừng.
Theo nghĩa hẹp hơn, từ khi có sự xuất hiện của con người, con người cùng với sự tiến hóa của mình cũng không ngừng tác động vào đất (chủ yếu là lớp vỏ địa lý) và làm thay đổi nó một cách nhất định. Theo tiến trình này, con người cũng nhận thức về đất đai một cách đầy đủ hơn. Ví dụ: “Đất đai là một tổng thể vật h 4 chất gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”; hoặc: “Một vạt đất là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất. Xét về mặt địa lý, có những đặc tính tương đối ổn định hoặc những tính chất biến đổi theo chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển theo chiều thẳng đứng phía trên và phía dưới của phần mặt đất này.
Nó bao gồm các đặc tính của phần không khí, thổ nhưỡng địa chất, thủy văn, cây cối, động vật sinh sống trên đó và tất cả các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người ở chừng mực mà những đặc tính đó có ảnh hưởng tới sử dụng vạt đất này trước mắt và trong tương lai” (Brink man và Smyth, 1976). Tuy nhiên, khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa…)” (Hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993). Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. Nguyễn Hữu Ngữ - Đại học Huế - Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất) Đối với sản xuất nông lâm nghiệp đất là một tư liệu sản xuất vô cùng quý giá, cơ bản và không gì thay thế được.
Luật đất đai đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn bao công sức và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được vốn đất như ngày nay. h 5 Đối với môi trường đất được coi là hệ đệm, như một phễu lọc luôn làm sạch môi trường với tất cả các chất thải thông qua hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng. Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ và sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường, đưa việc quản lý và sử dụng đất đai vào quy chế chặt chẽ, khai thác tiềm năng của đất đai một cách hợp lý và có hiệu quả, triệt để tiết kiệm đất, góp phần vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, từng bước đưa nông nghiệp, lâm nghiệp lên sản xuất lớn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Các chức năng của đất đai Theo định nghĩa về đất đai của Luật đất đai Việt Nam (1993) thì “Đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân”. Theo FAO (1995), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt: sản xuất, môi trường sự sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đất); không gian sự sống; bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân dị lãnh thổ. Con người đã thừa nhận đất đai đối với loài người có rất nhiều chức năng, trong đó có những chức năng cơ bản sau: - Chức năng sản xuất: Là cơ sở cho nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống của con người, qua quá trình sản xuất, đất đai cung ấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp thông qua chăn nuôi và trồng trọt.
- Chức năng môi trường sự sống: đất đai là cơ sở của mọi hình thái sinh vật sống trên lục địa thông qua việc cung cấp các môi trường sống cho sinh vật và gen di truyền để bảo tồn nòi giống cho thực vật, động vật và các cơ thể sống cả trên và dưới mặt đất. h 6 - Chức năng cân bằng sinh thái: đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là tấm thảm xanh đã hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất thông qua việc phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển của địa cầu.