Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Các khái niệm về sản xuất Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại.
[13] Hiệu quả sản xuất là vấn đề được nhiều người sản xuất đặc biệt quan tâm, vì nó thể hiện kết quả của quá trình lao động sản xuất. Qua đó có thể xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Các khái niệm về hiệu quả kinh tế HQKT được bắt nguồn từ sự thoả mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội cũng như khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực. Quá trình tái sản xuất vật chất, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định.
Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, trong điều kiện nhu cầu của toàn xã hội về hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng lên. Vì vậy, bắt buộc xã hội phải lựa chọn, từng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lựa chọn, sao cho sử dụng một nguồn lực nhất định, phải tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ cao tối đa nhất. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội và từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh sử dụng nguồn nhân lực, vật lực để đạt được hiệu quả cao nhất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế.
Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn lực có sẵn n 5 trong một hoạt động kinh tế. Đây đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội, do nhu cầu vật chất ngày càng cao.[13] Khái niệm HQKT mang tính chất tương đối về không gian và thời gian, phụ thuộc vào trình độ phát triển về kinh tế, xã hội, đặc điểm lịch sử và truyền thống cũng như những điều kiện tự hiên của mỗi quốc gia, mỗi địa phương và vùng lãnh thổ ảnh hưởng bởi sự phát triển của khoa học và công nghệ, sự phát triển và biến động của nền kinh tế trong nước và quốc tế, sự thay đổi về nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng. HQKT không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất mà phải đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho toàn xã hội.[3] Cơ sở cho sự phát triển xã hội là tăng lên không ngừng của lực lượng vật chất. Phát triển kinh tế có hiệu quả tăng khả năng tích luỹ và tiêu dùng, tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng… giải quyết tốt những vấn đề xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực phát triển lâu dài nền kinh tế quốc dân.[3] * Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế được xác định bằng công thức: Hiệu quả kinh tế = kết quả thu được – chi phí bỏ ra.
(H) = (Q) - (C) Quan điểm này không còn phù hợp nữa, vì nếu cùng một kết quả sản xuất như nhau nhưng khác nhau về chi phi sản xuất sẽ khác nhau về hiệu quả. Không phản ánh đúng mục tiêu của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. * Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản xuất hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả kinh tế có nghĩa là không lãng phí. Một nền kinh tế là có hiệu quả khi nó nằm trên giới hạn năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của kinh tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế (sản lượng cao nhất có thể đạt được trong điều kiện toàn dụng công nhân) và sản lượng thực tế là sản lượng tiềm năng mà xã hội không dùng được phần bị lãng phí.
n 6 * Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội. * Quan điểm thứ tư: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó. * Quan điểm thứ năm: hiệu quả của một quá trình nào đó, theo định nghĩa chung là mỗi quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó. Cơ sở của sự phát triển xã hội chính là sự tăng lên không ngừng của lực lượng vật chất và phát triển kinh tế có hiệu quả tăng khả năng tích luỹ và tiêu dùng không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc gia,… Do đó, trong quá trình sản xuất của con người không chỉ đơn thuần quan tâm đến HQKT mà đòi hỏi phải xem xét đánh giá một cách tích cực và hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái tự nhiên xung quanh.
Các quan điểm trên cho thấy rằng: Hiệu quả kinh tế là thể hiện hiệu quả so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra. Khi kết quả đạt được chỉ bằng chi phí bỏ ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm một nguồn lực để đạt một kết quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau vẫn phải dựa trên nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra. Hiệu quả kỹ thuật Theo Nguyễn Tiến Mạnh (1995), hiệu quả kỹ thuật được hiểu là trình độ kỹ thuật của người sản xuất trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật được xác định bằng tỷ số giữa năng suất thực tế đạt được của người sản xuất so với mức năng suất cao nhất có thể đạt được tại mỗi mức đầu vào nhất định trong điều kiện công nghệ sản xuất và giá cả các yếu tố đầu vào, đầu ra không đổi.
n 7 Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất đem lại cho bao nhiêu đơn vị sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh trong mối quan hệ về hàm sản xuất: Q=f(X1, X2…Xn ). Nó liên quan đến phương diện của sản xuất.
Nó phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật, trình độ công nghệ sản xuất, khoa học kỹ thuật được áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, kỹ năng của người sản xuất trong quá trình sản xuất. Hiệu quả phân bổ Theo Nguyễn Tiến Mạnh (1995), hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả trong yếu tố sản xuất và giá đầu vào, được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của yếu tố đầu ra, vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá. Việc xác định hiệu quả này giống như các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải tính bằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
Như vậy: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong hai yếu tố trên thì mới là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để đạt được hiệu quả kinh tế, chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu trên thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế. Giới thiệu và một số mô hình sản xuất bưởi Da Xanh tiêu biểu 1.
Nguồn gốc Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L) Osbeck, thuộc họ cam (Rutaceae). Bưởi là loại cây quen thuộc với người Việt Nam, có nhiều loại bưởi nổi tiếng như bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Thanh Trà, bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh. Cây bưởi có nhiều giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế cao. Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quít có lịch sử n 8 trồng trọt lâu đời nhất.
Có nhiều kết quả nghiên cứu nói về nguồn gốc của cam quít (Bùi Huy Đáp (1960) [4]; Trần Thế Tục (1995) [9]; cho rằng: Trong đó cam quít có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo đến lục địa Úc. Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo (Bùi Huy Đáp (1960) [4]) có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau công nguyên và tiếp theo mới đến các nước ở châu Âu. Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn Độ, tiếp theo là trồng ở Bang Florida (Mỹ) vào năm 1809, sau đó lan rộng và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ. Các giống quít cũng được xác định có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, gồm miền Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó được những người đi biển mang đến trồng ở Ấn Độ.