Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại Trong những năm gần đây ở nước ta có rất nhiều cơ quan nghiên cứu và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan tâm nghiên cứu về KTTT. Một trong những vấn đề được đề cập nhiều là khái niệm KTTT.
Về thực chất trang trại và KTTT là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất với nhau, có rất nhiều quan điểm khác nhau về KTTT như: Để biểu đạt loại hình kinh tế này, các nước đều có ngôn từ dùng để chỉ các hình thức tổ chức sản xuất tập trung (Farm, Farm stedd, Farm house (Anh); Ferme (Pháp); Fepma (Nga)…) khi chuyển sang tiếng Việt dịch là trang trại hay nông trại (Trần Trác, 2018). - Theo quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và Ngân hàng thế giới (WB): “Nông trại (Farm) của các nước châu Á gió mùa dùng để chỉ một khu đất canh tác nông nghiệp”. Phạm Minh Đức và cộng sự: “Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của hộ, do một người chủ hộ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó huy động thêm vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao”. Trần Đức cho rằng: “Trang trại là chủ lực của tổ chức làm nông nghiệp ở các nước tư bản cũng như các nước phát triển và theo các nhà khoa học khẳng định là tổ chức SXKD của nhiều nước trên thế giới trong thể kỷ XXI”.
Theo Nguyễn Thế Nhã: “Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được 5 tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường” (Bùi Nam Tiến, 2017). Còn theo Nguyễn Phượng Vỹ: “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá”. Trần Hữu Quang cho rằng: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ SXKD và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra thu nhập chính cho gia đình đáp ứng nhu cấu xã hội”. Theo Nghị Quyết TW số 06/NQ - TW ngày 10/11/1998, đã xác định: “trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả”.
Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra khái niệm về KTTT như: KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật định. Theo tác giả Trần Tác: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn. Có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa các thành tựu khoa học, công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá, tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường, mang lại HQKT xã hội cao”. 6 Theo Đào Công Tiên: “KTTT là một loại hình tổ chức SXKD trong nông nghiệp, phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế hộ và về cơ bản giữ bản chất kinh tế hộ.
Quá trình hình thành và phát triển KTTT là quá trình nâng cao năng lực sản xuất dựa trên cơ sở tích tụ tập trung vốn và các yếu tố sản xuất khác, nhờ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” (Lê Thị Mai Hương, 2017). Theo quan điểm của Nghị Quyết 03/2000 NQ - CP về việc “khuyến khích phát triển KTTT” cho rằng “Bản chất của KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ gia đình”. Như vậy, nói KTTT là nói mặt kinh tế của trang trại. Bởi ngoài ra còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và môi trường.
Điều này có nghĩa rằng khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm KTTT. KTTT là tổng thể các yếu tố SXKD và các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động của trang trại. Khái niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là phương diện của quá trình sản xuất cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định. Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (Phạm Thị Thanh Thủy, 2017).
Đặc trưng của kinh tế trang trại Khác với các loại hình kinh tế khác trong nông nghiệp, KTTT có một số đặc trưng cơ bản sau đây: 7 Một là, KTTT là loại hình kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, được chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất theo nhu cầu thị trường. Đây là một đặc trưng cơ bản của KTTT, khác với kinh tế nông hộ. Giá trị tổng sản phẩm và khối lượng sản phẩm hàng hóa của KTTT cao hơn nhiều so với kinh tế hộ thông thường. KTTT thường có tỷ suất hàng hóa lớn và quy mô trang trại thường lớn hơn nhiều lần so với quy mô của kinh tế nông hộ.
Các chỉ tiêu cơ bản trong sản xuất nông nghiệp như ruộng đất, vốn, lao động, giá trị sản phẩm hàng hóa của KTTT đều cao hơn nhiều lần so với kinh tế hộ (Trần Trác, 2018) Hai là, KTTT có định hướng sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường. Do sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn nên KTTT phải gắn với thị trường cả về sản phẩm đầu vào và đầu ra. Trang trại phải mua vật tư, nguyên liệu, giống cây trồng, vật nuôi. từ thị trường và bán sản phẩm ra thị trường.
Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển đến giai đoạn cao, SXKD của trang trại không chỉ gắn với thị trường trong nước mà còn phải gắn với thị trường quốc tế. Ngày nay, vấn đề tiếp cận thị trường, tổ chức thông tin thị trường và sản xuất đáp ứng yêu cầu của quy luật thị trường đã trở thành một trong những nhân tố quyết định nhất đối với SXKD của trang trại. Ba là, KTTT là loại hình tổ chức SXKD có khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn so với kinh tế hộ. Như đã nêu ở trên, KTTT với hình thức tổ chức sản xuất quy mô lớn hơn, nên có khả năng ứng dụng công nghệ mới, đưa khoa học - công nghệ vào ngay trong quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, nhằm mang lại hiệu quả cao hơn so với kinh tế hộ.
Măt khác, yêu cầu tăng hiệu quả, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, cũng đặt ra yêu cầu trang trại phải ứng dụng khoa học - công nghệ mới (Trần Trác, 2018). Bốn là, về lao động, khác với kinh tế hộ, ngoài lao động của gia đình, các trang trại phải sử dụng thêm lao động thuê ngoài. Mức độ sử dụng lao động của KTTT tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm của từng trang trại. Tuy nhiên, do điều 8 kiện của sản xuất nông nghiệp nên trang trại thường thuê lao động theo thời vụ.
Lao động trong các trang trại cũng cần được đào tạo, cần có tay nghề phù hợp để đáp ứng được yêu cầu ứng dụng khoa học - công nghệ. Năm là, KTTT có tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ hơn và có thu nhập cao hơn so với sản xuất kinh tế hộ. Do mục đích của KTTT là sản xuất hàng hóa nên nhìn chung các trang trại đều tập trung chuyên môn hóa một số sản phẩm nhất định. Do được tổ chức quản lý SXKD tiến bộ và quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn nên KTTT có thu nhập cao hơn nhiều lần so với kinh tế hộ.
Đây cũng là mục tiêu cơ bản của KTTT, của hình thức tổ chức sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp. Sáu là, chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có nghị lực và quyết tâm làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Nhìn chung, chủ trang trại là người có năng lực tổ chức, quản lý, có kinh nghiệm và kiến thức nhất định về SXKD nông nghiệp và là người trực tiếp quản lý trang trại (Nguyễn Văn Tuấn, 2016). Những đặc trưng trên cho thấy KTTT khác với loại hình kinh tế hộ nông dân tự cấp, tự túc.
Những đặc trưng này cũng từng bước được định hình ngày càng rõ ràng hơn cùng với quá trình phát triển của KTTT trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của Kinh tế trang trại Trang trại được đánh giá là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới. Ở các nước phát triển, trang trại gia đình có vai trò quan trọng và quyết định trong sản xuất nông nghiệp và đại bộ phận nông sản cung cấp cho xã hội được sản xuất ra trong các trang trại gia đình. Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại phát triển nhanh cả về số lượng, đa dạng về ngành sản xuất ở tất cả các vùng, các địa phương trong cả nước.