CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Hợp đồng nông sản là một cơ chế quan trọng để điều phối việc sản xuất, phân phối, là công cụ gắn kết giữa các chủ thể của một chuỗi giá trị và giúp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Trọng tâm của các hợp đồng nông sản chính là mối quan hệ DN-ND. Mối liên kết này trong chuỗi giá trị các ngành nông sản luôn được các nhà khoa học thế giới đặc biệt quan tâm.
Theo Sporleder (1992), Hợp đồng liên kết có thể qua các cách thức khác nhau. Hợp đồng có thể xác định giá cả, số lượng, chất lượng cung cấp các đầu vào trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, cung cấp tín dụng, điều kiện sản xuất và giao hàng và các yêu cầu khác kèm theo. Các điều khoản khác có thể có trong hợp đồng như về tiếp thị, về yêu cầu kiểm soát sản xuất… Glover (1987) cho rằng liên kết sản xuất theo hợp đồng vừa phát huy được tính ưu thế của sản xuất đồn điền quy mô lớn mà không làm mất đi ưu thế của sản xuất tiểu nông. Việc liên kết như vậy là nhằm đảm bảo số lượng và chất lượng sản phẩm cũng như thời gian thu hoạch được quản lý và giám sát nhằm đạt được lợi ích tối đa cho các bên tham gia (Gulati và cộng sự, 2007).
Theo một Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về phát triển nông nghiệp (World Bank, 2007), nhiều tổ chức nhận định nông nghiệp theo hợp đồng là một trong những giải pháp chính để liên kết giữa nông dân và thị trường trong và ngoài nước, và qua đó góp phần vào quá trình giảm nghèo. Berdegué và cộng sự (2008) chỉ ra rằng trong hầu hết các mô hình liên kết người nông dân đều có lợi hơn khi tham gia, ít nhất là trong ngắn hạn; còn về dài hạn nhất thiết phải xây dựng được các tổ chức sản xuất lớn. 20 luan an Ngân hàng thế giới (2016) nhận định hợp đồng nông sản là một công cụ có tiềm năng giúp giảm chi phí giao dịch liên quan đến các công đoạn tìm nguồn cung nông sản và đưa sản phẩm ra thị trường. Nếu hoạt động tốt thì hợp đồng nông sản có thể bảo đảm sự ổn định cho người mua về chất lượng, khối lượng, từ đó đáp ứng tốt hơn về nguồn cung và yêu cầu của khách hàng, cũng như giảm rủi ro, chi phí hoạt động.
Một báo cáo của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2008) cho biết, các mô hình liên kết cần giải quyết vấn đề căn bản là việc tổ chức các nông dân nhằm làm giảm các chi phí đối với doanh nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp thường muốn hợp tác với các nông dân có tổ chức hơn là từng cá nhân cho dù các tổ chức, chẳng hạn hợp tác xã, thường có khả năng mặc cả lớn hơn. Trong bài nghiên cứu“Agricultural co-operation”, tác giả G. Chahal (2008) tại đại học Punjab Agricultural (Ấn Độ), đã đi sâu vào phân tích hiện trạng hoạt động, ưu nhược điểm, giải pháp khắc phục và triển vọng tương lại của việc hợp tác nông nghiệp trong chuỗi giá trị nhằm mục tiêu góp phần thúc đẩy canh tác và sản xuất nông nghiệp tại Ấn Độ.
Dựa trên kết quả của việc nghiên cứu, bài viết đã chỉ ra những tồn tại của mô hình liên kết nông nghiệp tại Ấn Độ như thiếu tính chủ động, thiếu kinh phí và nguồn lực hỗ trợ, các khoản vay chỉ cho mục đích sản xuất, tỷ lệ nợ quá hạn trong các liên kết ở mức cao, thiếu hợp tác giữa các hộ sản xuất, cùng một số hạn chế trong quản lý và hỗ trợ của chính phủ. Báo cáo “Linking farmers to markets through contract farming” trong Bản tin Thị trường và Phát triển của ADB (2007) đã đề cập tới các thuộc tính điển hình, vai trò và tầm quan trọng của hợp đồng nông sản đồng thời dự báo các vấn đề quan trọng tác động đến sự thành công của hệ thống hợp đồng nông sản ở Việt Nam trong tương lai. Bên cạnh những nghiên cứu ca ngợi tính ưu việt của hợp đồng nông sản cũng có những nghiên cứu quan ngại về khả năng liên kết giữa những nông hộ có quy 21 luan an mô sản xuất nhỏ với doanh nghiệp khi mà hệ thống chuỗi sản phẩm ngày càng trở nên hiện đại đi kèm với đó là các siêu thị và đại siêu thị lớn được hình thành với nhiều tiêu chuẩn chất lượng ngày một trở nên khắt khe. Bài nghiên cứu “30 cases of contract farming: an analytical overview” được thực hiện vào năm 2005 bởi nhóm nghiên cứu của Trung tâm Chính sách Nông nghiệp (CAP) cùng với Chương trình Making Markets Work Better for the Poor (M4P) cũng đề cập đến vấn đề này.
Isabelle Delforge (2007), Wimonkan Kosumas (2006) và Sukh Singh (2005) đã nghiên cứu các trường hợp sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan. Điểm chung của các nghiên cứu này là đều cho rằng nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc vận động và hỗ trợ phát triển sản xuất theo hợp đồng. Hongdong Guo, Robert W.Jolly và Jianhua Zhu (2005) đã nghiên cứu các trường hợp sản xuất theo hợp đồng ở Trung Quốc và đã đi đến kết luận sự phát triển mạnh mô hình sản xuất theo hợp đồng dưới hình thức nông dân ký kết hợp đồng với các “doanh nghiệp đầu rồng” (Dragon Head Firms) là do chương trình hiện đại hóa nông nghiệp ở Trung Quốc. Chính phủ xây dựng những cơ chế giám sát các doanh nghiệp để đảm bảo cho việc sản xuất theo hợp đồng phát triển.
Hiệp hội các tổ chức nghiên cứu nông nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Association of Agricultural Research Institutions – APAARI, 2008) đã tổng hợp các trường hợp liên kết thị trường thành công ở Phillipines, Trung Quốc và Ấn Độ và rút ra một số bài học kinh nghiệm. Bên cạnh những nghiên cứu về ưu nhược điểm của liên kết sản xuất theo hợp đồng nói chung còn có những nghiên cứu phân tích vấn đề này đối với từng chuỗi nông sản cụ thể. Nghiên cứu cũng đã đưa ra các khuyến nghị nhằm tạo điều kiện cho nông dân trong việc nâng cao năng lực sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. 22 luan an Một nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2004-2005 của Ban Kinh tế và Phát triển xã hội Thái Lan (NESDB) được tài trợ bởi Ngân hàng thế giới WB có tên “Northeast Thailand rice value chain study” đã đề cập tới vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.
Liên quan trực tiếp đến liên kết trong chuỗi giá trị ngành mía đường, có các nghiên cứu như: “Phân tích chuỗi giá trị ngành mía đường: Nghiên cứu trường hợp Nkhotakota” của Mạng lưới dịch vụ nông nghiệp dân sự (CISANET) năm 2013, phân tích chuỗi giá trị mía đường đối với trường hợp nghiên cứu điển hình là quận Nkhotakota (Cộng hòa Malawi), qua đó đánh giá vai trò của các bên liên quan, đặc biệt là nông dân quy mô nhỏ, trong sản xuất và thương mại đường. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản thuộc Chính phủ Australia năm 2006 với chủ đề “Hướng đến một chuỗi cung ứng đường bền vững” đã phân tích hiệu quả mà các tác nhân trong chuỗi đạt được theo đường đi của cây mía nguyên liệu, từ khâu trồng đến khâu thu hoạch, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ. Vai trò của từng “mắt xích” trong chuỗi cũng được mô tả tương đối rõ nét. Australia là một trong những nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn nhất thế giới, chỉ sau Brazil và Ấn Độ.
Chính vì vậy, ngành công nghiệp mía đường luôn là một trong những ngành được Chính phủ nước này đặc biệt quan tâm. Bài nghiên cứu của 2 tác giả Thomson Kalinda và Brian Chisanga về “Chuỗi giá trị mía đường của Zambia: Đánh giá các cơ hội và thách thức tăng trưởng” đăng trên Tạp chí khoa học nông nghiệp châu Á (Asian Journal of Agriculture Sciences) với mục tiêu chính là xác định các đối tượng trong chuỗi giá trị đường Zambia nhằm đánh giá các cơ hội tăng trưởng và những hạn chế mà ngành công nghiệp mía đường quốc gia này đang phải đối mặt. Cororaton (2013) phân tích tác động kinh tế của việc giảm thuế đường theo Hiệp định thương mại hàng hóa Asean đối với ngành đường Philippines. Ngành công nghiệp đường cũng là ngành được bảo hộ cao thứ 2 trong 23 luan an tất cả các ngành của quốc gia này.
Philippines là quốc gia thực thi ATIGA từ năm 2010. Mục tiêu của báo cáo là xem xét các tác động tiềm tàng đối với nền kinh tế Philippines khi chính phủ thực hiện cam kết về thuế đối với mặt hàng đường theo ATIGA. Báo cáo của Dự án Giám sát các chính sách lương thực và nông nghiệp châu Phi (Monitoring African Food and Agricultural Policies project - MAFAP) dưới sự hỗ trợ kĩ thuật của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) năm 2013 về “Phân tích những ưu đãi và những điểm không khuyến khích đối với ngành đường tại Kenya” chỉ ra rằng ngành công nghiệp đường đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Kenya, đóng góp khoảng 15% trong tổng GDP nông nghiệp của đất nước này. Tuy nhiên, ngành này hiện hoạt động với năng suất thấp và không thể đáp ứng nhu cầu đường trong nước và càng không thể cạnh tranh với các nhà sản xuất khác trong các thị trường quốc tế.
Vì vậy, hiện nay ngành đường Kenya vẫn thực hiện chính sách bảo hộ cao. Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, ngành công nghiệp đường của Kenya đã phải đối mặt với một số thách thức lớn, đặc biệt là các chính sách tự do hóa thương mại của COMESA (Thị trường chung của vùng Đông và Nam châu Phi) và các cam kết của WTO do chi phí sản xuất cao so với các nước trong khu vực, tình trạng xuống cấp của một số nhà máy, năng lực quản trị yếu kém, …Chuỗi giá trị mía đường Kenya bao gồm 3 tác nhân chính: người sản xuất, tác nhân chế biến và tác nhân phân phối. Người sản xuất cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp mía đường ở Kenya chủ yếu là các hộ nông dân nhỏ, hạn chế về vốn và kĩ thuật canh tác. Tác nhân phân phối bao gồm nhà bán buôn, nhà bán lẻ và nhà nhập khẩu.
Các tác giả của báo cáo này cũng đưa ra những số liệu thực tế về chi phí cũng như hiệu quả hoạt động của từng tác nhân trong chuỗi, theo đó chi phí thu hoạch và vận chuyển là chi phí lớn nhất đối với người nông dân (chiếm tới 45% của tổng chi phí).