CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam và là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm thiết yếu chính cho người dân. Thịt cá trứng là thành phần chính của bữa ăn của người Việt có điều kiện, trong đó thịt heo và thịt gà chiếm tỷ trọng cao, thịt lợn chiếm tới 65% cơ cấu thực phẩm trong các bữa ăn của các gia đình Việt Nam, trong khi thịt gia cầm chỉ chiếm từ 22%, số còn lại là thịt bò và thủy hải sản (Phan Hậu, 2020). Chăn nuôi cũng là ngành kinh tế giúp cho người nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Chăn nuôi Việt Nam luôn phát triển với tốc độ cao, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp có xu hướng tăng nhanh, góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và gia tăng xuất khẩu. Một số sản phẩm chăn nuôi đã được xuất khẩu như thịt lợn choai, lợn sữa, thịt gia cầm, trứng muối, mật ong, tổ yến, tơ tằm, sữa và các sản phẩm từ sữa… khẳng định giá trị thương hiệu của sản phẩm chăn nuôi trong nước với khu vực và trên thế giới. Nhiều lĩnh vực chăn nuôi đã có vị thế cao trong khu vực và trên thế giới như chăn nuôi lợn đứng vị trí thứ 5 về đầu con, thứ 6 về sản lượng; đàn thủy cầm đứng thứ 2 thế giới; năng suất bò sữa và sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp đứng số 1 trong khu vực Đông Nam Á… Chăn nuôi đã tạo sinh kế cho 6,0 - 6,5 triệu nông hộ trong 8,6 triệu doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, góp phần thay đổi bộ mặt của khu vực nông thôn (DeHeus, 2020). Ngày càng nhiều doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh tế đầu tư lớn trong phát triển chăn nuôi, chế biến sản phẩm chăn nuôi theo mô hình chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn.
Bên cạnh những thành tựu trên, ngành chăn nuôi đang còn bộc lộ những tồn tại như chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm đa số; công tác kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm và môi trường còn nhiều bất cập nhất là khu vực chăn nuôi nông hộ và giết mổ nhỏ lẻ; tổ chức sản xuất chăn nuôi theo chuỗi liên kết còn chiếm tỷ trọng thấp; hoạt động nghiên cứu khoa học chăn nuôi chưa có nhiều đột phá; công tác dự báo, dự tính về thị trường sản phẩm chăn nuôi còn nhiều hạn chế, v. Vì vậy, 2 ngành chăn nuôi cần thay đổi kịp thời để thích ứng với tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, diễn biến ngày càng phức tạp của dịch bệnh và thay đổi ngày càng lớn của khoa học công nghệ, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ. Tại Hội nghị chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020 - 2030, tầm nhìn 2040 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 15 tháng 09 năm 2020, Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã ban hành chiến lược phát triển ngành ngành chăn nuôi là hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh, đến năm 2030, sản xuất chăn nuôi Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia tiên tiến trong khu vực. Theo Thanh Thúy (2020), sản phẩm chăn nuôi được sản xuất chủ yếu trong các trang trại chăn nuôi chuyên nghiệp, đảm bảo an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, thân thiện với môi trường, đối xử nhân đạo với vật nuôi, đảm bảo an toàn thực phẩm, cụ thể: - Tăng trưởng giá trị sản xuất từng ngành mục tiêu trung bình 4-5% trong giai đoạn 2020-2025, từ 3-4% trong giai đoạn 2026- 2030.
- Trong đó, chăn nuôi heo là ngành hàng chính trong ngành chăn nuôi Việt Nam, có vai trò đảm bảo an ninh thực phẩm cho đất nước. Sản lượng thịt heo dự kiến từ 3,15 triệu tấn đến 3,58 triệu tấn đến năm 2025; từ 3,54 triệu tấn đến gần 4 triệu tấn đến năm 2030. - Đến năm 2030, định hướng phát triển chăn nuôi heo với các giống cao sản theo hướng trang trại công nghiệp đồng thời mở rộng qui mô đàn heo chăn nuôi theo hướng hữu cơ, truyền thống với các giống heo bản địa, heo lai giữa giống cao sản và giống bản địa. - Tổng đàn heo có mặt thường xuyên ở mức từ 20 đến 30 triệu con, trong đó đàn heo nái từ 2,5 đến 2,8 triệu con; đàn heo được nuôi trang trại, công nghiệp chiếm trên 70%.
Như vậy, sẽ có sự dịch chuyển lớn trong ngành chăn nuôi heo, giảm số hộ chăn nuôi heo nhỏ lẻ như hiện nay – chiếm gần 90% và tăng số lượng các trang trại công nghiệp (doanh nghiệp) trong thời gian tới, với tổng đàn heo tại các doanh nghiệp chăn nuôi 3 từ 10% (tương đương 3,7 triệu con) như hiện nay tăng lên 70% (tương đương 25 triệu con) trong thời gian tới.1: Top 10 quốc gia sản xuất thịt heo năm 2020 (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Hình 1.2: Qui mô hộ chăn nuôi heo tại Việt Nam 2020 (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 4 Trong thời gian qua, doanh nghiệp và hộ chăn nuôi heo của Việt Nam đã chịu tác động bởi các yếu tố rủi ro như dịch tả heo Châu Phi, đại dịch Covid-19, Luật chăn nuôi Việt Nam được ban hành năm 2020, sự cạnh tranh mạnh mẽ của thịt heo nhập khẩu từ Châu Âu do thuế suất nhập khẩu thịt heo giảm về 0% theo lộ trình 10 năm của hiệp định EVFTA mà Việt Nam đã tham gia, v. Các yếu tố rủi ro này đã tác động đến hiệu quả chăn nuôi heo. BIỂU ĐỒ DIỄN BIẾN GIÁ HEO HƠI TẠI VIỆT NAM TỪ 2018-2021 120,000 100,000 80,000 VND 60,000 40,000 20,000 - Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec 2018 31,00 29,50 29,00 38,50 48,00 49,00 55,00 53,00 53,00 51,00 49,00 50,00 2019 52,00 50,00 42,00 43,00 35,00 40,00 39,00 48,00 47,00 62,00 75,00 92,00 2020 85,00 79,00 83,00 89,00 100,0 89,00 91,00 82,00 82,00 80,00 78,00 72,00 2021 82,00 78,00 76,00 74,00 72,50 70,00 65,00 56,00 50,00 43,00 45,00 50,00 Về cơ chế chia sẽ rủi ro trong nông nghiệp: Bảo hiểm nông nghiệp là một sản phẩm bảo hiểm truyền thống nằm trong số hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ hiện hành trên thị trường bảo hiểm thế giới (bao gồm hơn 250 sản phẩm bảo hiểm tài sản, gần 200 sản phẩm bảo hiểm con người và xấp xỉ 100 sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm) (Nhóm phóng viên báo Quân đội Nhân dân Điện tử, 2020). Ông An Văn Khanh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế và Hợp tác phát triển nông thôn cho biết: Mặc dù là nước nông nghiệp nhưng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ.
Được khởi động từ sớm (1982) song cho đến nay phí bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng rất ít trong doanh thu phí bảo hiểm phi 5 nhân thọ, chiếm 0,069% (2004), khoảng 0,008% (2005), gần 0,012% (2006) và 0,01%/năm (2007-2010). Năm 2013, chương trình bảo hiểm nông nghiệp được triển khai rộng trên cây lúa, vật nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm) và thuỷ sản (cá tra, tôm sú, tôm chân trắng) ở 20 tỉnh, thành phố (Nhóm phóng viên báo Quân đội Nhân dân Điện tử, 2020). Rất ít doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp. Hầu như các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản đều không được bảo hiểm.
Thực tế này khiến cho bảo hiểm nông nghiệp hiện chưa đóng góp nhiều cho sản xuất nông nghiệp. Có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan khiến cho việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam còn lúng túng và chưa thành công, trong đó phải kể đến: Thứ nhất, rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn và thường xuyên. Nếu chỉ bảo hiểm theo hướng kinh doanh đơn thuần thì không có doanh nghiệp bảo hiểm nào muốn chọn bảo hiểm nông nghiệp vì nguy cơ thua lỗ cao. Nếu triển khai bảo hiểm nông nghiệp thì cũng chọn đối tượng ít có rủi ro để nhận bảo hiểm hoặc tiến hành một cách cầm chừng; Thứ hai, bảo hiểm nông nghiệp là bảo hiểm những rủi ro khó xác định.
Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi chấp nhận và bồi thường bảo hiểm. Đối tượng được bảo hiểm là những cơ thể sống chịu tác động mạnh của các yếu tố thiên nhiên dẫn đến công tác quản lý rủi ro gặp rất nhiều khó khăn; Bên cạnh đó, công tác đánh giá rủi ro, đánh giá mức độ thiệt hại trong bảo hiểm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn; Ví dụ, khi bảo hiểm vật nuôi, doanh nghiệp bảo hiểm đeo vòng, đeo số vào những con vật được bảo hiểm, khi xảy ra rủi ro - con vật chết - không chắc chắn đó chính là con vật đã được bảo hiểm. Ngoài ra, phải kể đến sự mâu thuẫn trong việc lựa chọn rủi ro và đối tượng. Doanh nghiệp bảo hiểm chọn loại rủi ro, đối tượng có mức độ rủi ro thấp để nhận bảo hiểm, ngược lại người tham gia bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm với mức độ rủi ro cao, thường dễ dẫn đến nhiều thiệt hại.
Vì vậy, để giải bài toán bảo hiểm nông nghiệp thì cần phải xây dựng cơ chế chính sách riêng cho bảo hiểm nông nghiệp bao gồm: hỗ trợ người dân, hỗ trợ doanh nghiệp, trợ giúp của các tổ chức (tín dụng, xuất khẩu), nhà nước nhận tái bảo hiểm cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp; nghiên cứu mức độ rủi ro cho từng đối 6 tượng, từng vùng để có chính sách phát triển bảo hiểm phù hợp: phương châm đi từ dễ đến khó (lựa chọn các đối tượng có mức độ rủi ro đồng nhất, mức độ rủi ro vừa phải, sản phẩm bảo hiểm đơn giản dễ thực hiện, lựa chọn rủi ro dễ kiểm soát …). Tiếp đến, áp dụng sự đa dạng hoá các hình thức bảo hiểm: Bảo hiểm theo phương pháp truyền thống (Bảo hiểm bồi thường) và Bảo hiểm chỉ số. Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam là cần thiết vì Việt Nam có rất nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu thế giới về sản lượng như: gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, thủy sản. Đây là một loại hình dịch vụ công rất quan trọng.
Vì vậy, Nhà nước cần đóng vai trò mạnh hơn nữa để hỗ trợ cho cho doanh nghiệp bảo hiểm phát triển. Kinh nghiệm của các quốc gia Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha cho thấy: Nhà nước đều hỗ trợ bảo hiểm dưới hai hình thức chính: phí bảo hiểm (hỗ trợ ít nhất là 50% phí bảo hiểm) và hỗ trợ chi phí tác nghiệp cho doanh nghiệp bảo hiểm (Bình, 2017).