Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hiệu quả kinh tế nuôi cá của hộ dân 1. Tổng quan về ngành thủy sản 1. Khái niệm về ngành thủy sản Theo tổ chức FAO thì việc nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
Trong đó, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản. Gần 90% của ngành thủy sản của thế giới được khai thác từ biển và đại dương, so với sản lượng thu được từ các vùng nước nội địa. Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.
Đánh bắt quá mức, bao gồm cả việc lấy cá vượt quá mức bền vững, giảm trữ lượng cá và việc làm ở nhiều vùng trên thế giới. Ðất để nuôi trồng thủy sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thủy sản. Hầu hết các thủy sản là động thực vật hoang dã, nhưng nuôi trồng thủy sản đang gia tăng. Canh tác có thể thực hiện ở ngay các vùng ven biển, chẳng hạn như với các trang trại hàu, nhưng hiện này vẫn thường canh tác trong vùng nước nội địa, trong các hồ, ao, bể chứa và các hình thức khác.
Vậy ngành thủy sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm các lĩnh vực hoạt động như: khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản, cơ khí hậu cần, dịch vụ và thương mại… sự phát triển của ngành dựa trên lợi thế về nguồn lợi thủy sản. Hiện nay ngành được coi là một ngành kinh tế biển quan trọng. Vai trò của ngành thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân Trong quá trình gần nửa thế kỉ từ ngày thành lập 1/4/1960, Ngành thủy sản đã trải qua nhiều chặng đường với những chủ trương thích hợp với từng thời kì phát triển của đất nước. Sau những năm “nhanh tay lưới, chắc tay súng” cùng toàn dân tộc vừa xây dựng miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, vừa đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giành độc lập thống nhất tổ quốc; rồi vượt qua thời kì suy thoái nghiêm trọng, tưởng như đến bờ vực phá sản của những năm cuối 1970 của thế kỷ trước, ngành đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, là một trong những ngành kinh tế tiên phong thử nghiệm cơ chế thị trường, góp phần khẳng định cho đường lối đổi mới nền kinh tế đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thực hiện thành công.
Qua 20 năm thực hiện đường lối ấy, cùng với nền kinh tế nước nhà, ngành thủy sản đã không ngừng tự đổi mới, đối mặt với nền kinh tế thị trường và đã dần tự khẳng định mình như một ngành kinh tế mũi nhọn, đặc biệt là một trong những ngành xuất khẩu hàng đầu, đóng góp lượng lớn ngoại tệ cần thiết cho sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà. Về những đóng góp quan trọng của ngành thủy sản trong 20 năm của thời kỳ đổi mới đất nước có thể tóm tắt như sau: - Thứ nhất: Ngành thủy sản đã góp phần hình thành và thực hiện nhiều đường lối, chủ trương, chính sách có tầm chiến lược đối với đất nước. Đó là quá trình hình thành đường lối đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, hình thành cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Hội nhập ngày càng sâu vào các quan hệ kinh tế quốc tế… - Thứ hai: Đã đưa nghề cá từ một lĩnh vực sản xuất thứ yếu thành một ngành sản xuất hàng hóa với lực lượng sản xuất tiên tiến, phát huy được sức mạnh sáng tạo của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là bà con nông ngư dân và các doanh nghiệp, hướng mạnh vào Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa. Biến tiềm năng thiên nhiên thành của cải vật chất, phát huy lợi thế về xuất khẩu, đưa nước ta từ chỗ chưa có tên trong danh sách đến vị trí 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, với nhưng sản phẩm đứng ở vị trí số một thị trường như tôm sú, cá tra… - Thứ ba: Đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, tạo lập công bằng xã hội, nhất là đối với các vùng nông 6 thôn nghèo, vùng sâu, vùng xa .Tại nhiều địa phương, thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản, đã được xác định và mở hướng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đảm bảo nguồn sinh kế và đảm bảo thực phẩm cho dân cư, cải thiện vai trò người phụ nữ.… Với vai trò quan trọng như vậy, ngành thủy sản nước ta xứng đáng được Đảng và Nhà nước quan tâm và càng khẳng định hơn nữa tầm quan trọng của ngành kinh tế mũi nhọn, ngành được chọn tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Đặc điểm của ngành thuỷ sản * Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất độc lập: Có thể nói ngành thủy sản là một ngành sản xuất độc lập nhưng cũng là ngành sản xuất vật chất hỗn hợp gồm nhiều ngành sản xuất chuyên môn hẹp. Tính sản xuất vật chất độc lập của nó được thể hiện ở chỗ: nó có đối tượng lao động, phương pháp lao động và lực lượng lao động riêng mang tính chất chuyên ngành. Còn tính sản xuất vật chất hỗn hợp được thể hiện ở chỗ: sản phẩm cuối cùng của ngành được sản xuất từ nguồn nguyên liệu động vật thuỷ sinh và được đưa vào tiêu dùng sinh hoạt nên người ta coi thủy sản thuộc nhóm ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng. Mặt khác, sản xuất thủy sản đi từ nuôi trồng, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi cho đến khai thác bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên của vùng, địa lý, khí hậu, thuỷ văn, giống loại thủy sản… nên sản xuất mang tính nông nghiệp.
Ngoài ra trong cơ chế thị trường đòi hỏi ngành thủy sản phải có một hệ thống dịch vụ chuyên ngành thích hợp như: sửa chữa tàu, ngư cụ, vận chuyển con giống, mạng lưới thương mại thuỷ sản. Vì những đặc tính này đã tạo nên nét đặc thù của ngành và làm cho ngành có những đặc điểm sau: - Ngành thủy sản là ngành vừa có tính công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và chịu rất nhiều sự chi phối của thiên nhiên. - Là ngành sản xuất có liên quan tới việc sử dụng diện tích mặt nước cũng như khai thác các sản phẩm có liên quan đến mặt nước. Các sản phẩm thủy sản thường có lượng đạm cao dễ bị hỏng do tác động của môi trường nên yêu cầu điều kiện vệ sinh, bảo quản sản phẩm cao.
7 - Ngành thủy sản là ngành đầu tư có hiệu quả, thu hồi vốn nhanh, có thể thu được sản phẩm trong thời gian ngắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. - Ngành có nguồn tài nguyên thủy sản với trữ lượng lớn và được tái tạo thường xuyên nếu biết bảo vệ. - Lao động của ngành thủy sản chủ yếu là lao động gắn với nông thôn và nông nghiệp. Do đặc điểm, tính chất kinh tế xã hội của các tổ chức sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ, tư nhân và tập thể nên lao động trong ngành thủy sản bao gồm cả người ngoài độ tuổi lao động, chủ yếu là lao động bán chuyên nghiệp, họ tham gia sản xuất vào thời kỳ nông nhàn hoặc kết hợp làm thủy sản trong quá trình sản xuất nông nghiệp để tăng thêm thu nhập.
Với những đặc điểm trên đã tạo cho ngành thủy sản có những tác động rất riêng đến các hoạt động kinh tế và xã hội của ngành và trong toàn nền kinh tế. Do vậy mà các lĩnh vực quan tâm trong quản lý, trong tổ chức sản xuất của ngành cũng rất khác biệt so với các lĩnh vực sản xuất khác. Theo đó mà các vấn đề quan tâm cho sự phát triển của ngành cũng rất cần sự quan tâm riêng và đặc biệt. * Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao: Thủy sản là một ngành sản xuất vật chất, ngành thủy sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau như: Khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản.
Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động trên chưa tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau. Trong điều kiện đó, khối lượng sản xuất ra còn ít với chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng thị trường nhỏ hẹp. Ngày nay dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động của xã hội làm cho hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hóa ngày càng cao. Các hoạt động chuyên môn hóa có trình độ phát triển và quy mô tùy thuộc vào nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ tạo nên những ngành chuyên môn hóa hẹp có tính tương đối.
Tuy vậy do đặc điểm sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thủy sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ. 8 Với những đặc điểm trên đã tạo cho ngành thủy sản có những tác động rất riêng đến các hoạt động kinh tế và xã hội của ngành và trong toàn nền kinh tế. Do vậy mà các lĩnh vực quan tâm trong quản lý, trong tổ chức sản xuất của ngành cũng rất khác biệt so với các lĩnh vực sản xuất khác. Theo đó mà các vấn đề quan tâm cho sự phát triển của ngành cũng rất cần sự quan tâm riêng và đặc biệt.