Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi 1. Khái niệm Hiệu quả kinh tế của quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định. Hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất chăn nuôi là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, công nghệ, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà nhà đầu tư đã xác định. Bản chất của hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt chăn nuôi nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất chăn nuôi là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động chăn nuôi, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu cuối cùng của hộ chăn nuôi là tối đa hóa lợi nhuận. Nhằm để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất chăn nuôi cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động chăn nuôi. Kết quả chăn nuôi là những gì hộ chăn nuôi đạt được sau một quá trình sản nhất định.
Kết quả hoạt động chăn nuôi lợn của nông hộ là những đại lượng cân, đong, đo, đếm được như sản lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận. kết quả là mục tiêu của hộ chăn nuôi. Hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Phân biệt các loại hiệu quả.
- Thực tế cho thấy các loại hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. + Hiệu quả kinh tế là so sánh giữa kết quả kinh tế với chi phí phân bổ để đạt được kết quả đó. Thai Nguyen University – TNU 4 + Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào. Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
+ Hiệu quả xã hội: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Mục tiêu xã hội là : giải quyết việc làm cho lao động; giảm số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động; nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân, đảm bảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi trường;. Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quan giữa các kết quả đạt được về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là việc nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh được đánh giá so sánh với mục tiêu đề ra, cần phải so sánh mức đạt được thực tế với một mốc nào đó. Các mốc so sánh là căn cứ thực tiễn để đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 1 đơn vị hay 1 sản phẩm. Tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh trong trạng thái động, chúng ta còn đánh giá hiệu quả ở trạng thái tĩnh, nghĩa là không so sánh với một mốc nào mà vẫn biết được doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không hiệu quả. Trong trường hợp này rõ ràng cần dựa vào các tiêu chí cụ thể.
Tùy vào mục đích kinh doanh, yêu cầu quản lý và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia mà các tiêu chí này có khác nhau. Theo Nghị định 87/2015/NĐ-CP có 5 tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp gồm: 1- Doanh thu; 2- Lợi nhuận sau thuế và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu; 3- Nợ phải trả quá hạn, khả năng thanh toán nợ đến hạn; 4- Chấp hành pháp luật về đầu tư, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về thuế và các khoản thu nộp ngân sách khác, quy định về chế độ báo cáo tài chính và báo cáo để thực hiện giám sát tài chính; 5-Tình hình thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích. Thai Nguyen University – TNU 5 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1.
Vai trò và vị trí của chăn nuôi lợn Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, chiếm tỷ lệ khá lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân và kinh tế hộ gia đình. Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là một ngành tạo ra nguồn thực phẩm tươi sống, chế biến, đóng hộp và các chế phẩm phụ khác cho đời sống nhân dân và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Nói chung chăn nuôi lợn có một số vai trò nổi bật như sau: - Cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người. - Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Hiện nay thịt lợn là nguyên liệu chính cho các công nghiệp chế biến thịt xông khói, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Việt Nam như thịt treo, thịt chua, giò nạc, giò mỡ. - Cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. - Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong công nghệ sinh học y học, lợn đã được nhân bản gen để phục vụ cho mục đích nâng cao sức khỏe cho con người. Chăn nuôi lợn làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông dân, tăng khả năng chi tiêu trong gia đình.
Đồng thời thông qua chăn nuôi lợn, người nông dân có thể phát triển thêm một số hoạt động sản xuất khác như: sản xuất rượu, đậu các loại nhằm tận dụng phần bã để chăn nuôi tiết kiệm được chi phí đầu vào và giải quyết công nhàn dỗi, dư thừa trong gia đình. Đặc điểm sinh học của lợn và đặc tính kỹ thuật chăn nuôi lợn Nhóm lợn đen bản địa ở miền núi hiện nay có hai loại màu: đen tuyền và đen trắng. Loại đen trắng: thân chủ yếu là màu đen, chân, trán, đuôi, hoặc dưới bụng có thể pha vạt trắng. Về kích thước nhóm lợn đen cũng có thể có mấy loại: to con như lợn Mường Tè, nhỏ con như lợn Sóc (Tây nguyên).
Nay đã nhận dạng được các giống/quần thể lợn đen như sau: Lợn Mường khương (Lào cai), lợn Lũng pù (Hà giang), lợn Táp Ná (Cao Bằng), Lợn Bản (Sơn la), Lợn 14 vú (Điện biên), lợn Mường Tè, Lợn Thai Nguyen University – TNU 6 Lững (Phú Thọ), Lợn Mẹo (Nghệ An), lợn Sau Na (Nghệ An), Lợn Khùa (Quảng Bình), lợn Vân Pa (Quảng Trị), lợn Cỏ A lưới (Thừa Thiên Huế), Lợn Sóc (Đăk Lắc), lợn Chư Prông (Gia Lai). Nhóm lợn đen có mặt ở các làng bản của các dân tộc thiểu số (DTTS) vùng núi kéo dài từ các tỉnh phía Bắc đến tận miền Tây Nam bộ. Ngoài lợn đen còn có sự lai giống lợn đen với lợn hung, nâu có đặc điểm giống như lợn đen. Về di truyền chúng giống nhau với nhóm lợn đen miền núi mặc dù khác nhau khá lớn về hai đặc điểm như màu lông và tỉ lệ nạc (Võ Văn Sự và cs, 2018) [28].
Nhìn chung lợn là động vật phàm ăn, có khả năng chịu đựng kham khổ cao. Lợn có bộ máy tiêu hóa tốt, có khả năng tiêu hóa thức ăn cao, do đó lợn có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như tinh bột, thô xanh, rau bèo, củ quả. Nguồn thức ăn chăn nuôi lợn rất phong phú, có thể tận dụng các phụ phế phẩm của ngành trồng trọt, của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn cao nên tiêu tốn ít thức ăn cho 1 kg tăng trọng.
Do vậy, lợn rất phù họp cho chăn nuôi hộ gia đình. Lợn có khả năng sinh sản cao, tái sản xuất đàn nhanh nên lợn hơn hẳn các gia súc khác về mặt sản xuất. Lợn là loại động vật đa thai, bình quân lợn đẻ 1.5 lứa/năm, 7-15 con/lứa. Đối với lợn bản địa sinh sản ít hơn (7-8 con/lứa), lợn công nghiệp là 10-15 con/lứa) (Lê Viết Ly, 2010) [9].
Lợn dễ bị dịch bệnh, độ rủi ro cao do khí hậu, thời tiết thất thường, thiên tai bão lụt, hạn hán ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn. Với lợn thịt, chuồng trại cần thoáng mát, có mật độ nuôi thích hợp, lợn phải được tiêm phòng đầy đủ trước khi đưa vào nuôi thịt. Lợn thịt có sự thay đổi khá nhanh về trọng lượng cho nên nhu cầu dinh dưỡng, thức ăn phù hợp, cân đối từng giai đoạn. - Cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác lợn thịt còn khó khăn trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm đầu ra nếu nuôi với quy mô lớn.
Giá cả đầu vào, đầu ra luôn biến động do cạnh tranh giữa cung - cầu của thị trường. Muốn phát triển ngành nghề nuôi lợn cần phát triển đồng bộ hệ thống thu mua, bảo quản, chế biến xuất khẩu. Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế, đòi hỏi những nhà chăn nuôi cần có sự lựa chọn các giống lợn thích hợp, tăng trưởng nhanh, giống lợn có tỷ lệ nạc cao, Thai Nguyen University – TNU 7 khối lượng xuất chuồng lớn, tiêu tốn thức ăn thấp, là những giống lợn đang được ưa chuộng hiện nay được nuôi sạch, dùng thức ăn chăn nuôi được chế biến từ sản phẩm tự nhiên. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn 1.
Điều kiện tự nhiên Lợn là loại động vật dễ thích ứng với thời tiết, thức ăn, cách nuôi. Lợn có lớp da hầu nhưng không có tuyến mồ hôi, dưới da lại có lớp mỡ dày, nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến sức tăng trọng của lợn. Nhiệt độ thích hợp cho lợn mới đẻ là 15- 210C, lợn sơ sinh 30-320C, lợn trưởng thành là 14-240C. Nhiệt độ quá cao lợn ăn ít, chậm lớn, nhiệt độ quá thấp lợn vận động nhiều hơn, tốn thức ăn hơn (Vũ Thùy An và cs, 2016) [1].