CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP • l. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh gắn liền với toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ cụ thể nào đó.
Hiệu quả kinh doanh không xét đến kết quả của một mà của nhiều tài sản dài hạn và ngắn hạn thực hiện được nhưng trong một thời kì rất cụ thể (thường là một năm).2 Ý nghĩa hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh, dù ở bất kỳ doanh nghiệp nào, hình thức hoạt động nào cũng không thể sử dụng hểt những tiềm năng sằn có trong doanh nghiệp mình, đó là những khả năng tiềm ẩn chưa phát hiện được. Chỉ có phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới giúp các nhà quản lý phát hiện và khai thác những khả năng tiềm tàng, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hon. Thông qua đó, các nhà quản lý còn tìm ra nguyên nhân và nguồn gốc của vấn đề phát sinh và từ đó có những giải pháp, chiến lược kinh doanh thích hợp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu trong tài liệu phân tích mà cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về khả năng và hạn chế của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Trên co sở đó, doanh nghiệp ra những quyết định đúng đắn cùng với các mục tiêu chiến lược kinh doanh. Vì vậy, người ta xem phân tích luôn đi trước những quyết định kinh doanh. Kinh doanh, dù trong bất cứ lĩnh vực nào, môi trường kinh tế nào đều có rủi ro. Đê kinh doanh đạt hiệu quả như mong muốn, mồi doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích hoạt động kinh doanh.
Thông qua việc phân tích dựa trên những tài liệu đã thu thập được mà doanh nghiệp có thể nhận thấy trình trạng thức tế là tốt hay xấu và dự đoán các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tới để đánh giá và đề ra chiến lược kinh doanh cho phù họp. 4 Sự cần thiết của tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh thường được xem xét trên ba góc độ: đối với bản thân doanh nghiệp, đối với nền kinh tế và đối với người lao động. • Đoi với doanh nghiệp: Với nền kinh tế thị trường ngày càng mở cửa như hiện nay, sự cạnh tranh cũng ngày cành gay gắt thì điều kiện đầu tiên với mọi doanh nghiệp về hoạt động là cần phải quan tâm tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu quả càng cao thì doanh nghiệp càng đứng vừng và phát triển, điều kiện đầu tư, mua sắm máy móc, thiết bị, phương tiện hiện đại phục vụ cho sản xuất kinh doanh, áp dụng các tiến độ kỳ thuật và quy trình công nghệ mới, cải thiện và nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. • Đối với nền kinh tế: Một nền kinh tế quốc dân có phát triển được hay không luôn đòi hỏi các thành phần kinh tế trong nền kinh tể đó làm ăn có hiệu quả, đạt được những thuận lợi cao, điều này được thể hiện ở những mặt sau: Doanh nghiệp kinh doanh tốt, làm ăn có hiệu quả thì điều đầu tiên doanh nghiệp mang lại cho nền kinh tế xã hội là tăng sản phâm trong xã hội, tạo ra việc làm, nâng cao đời sống dân cư, thúc đây kinh tể phát triển.
Doanh nghiệp làm ăn có lãi thì sẽ đầu tư nhiều hơn vào quá trình tái sản xuất mở rộng để tạo ra nhiều sản phâm hơn, đáp ứng nhu cầu đầy đủ, từ đó người dân có quyền lựa chọn sản phâm phù họp với tốt nhất, mang lại lợi ích cho mình và cho doanh nghiệp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ có điều kiện nâng cao chất lượng hàng hóa, hạ giá thành sản phâm, dần đen hạ giá bán, tạo mức tiêu thụ mạnh cho người dân, góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tể bền vừng. Chỉ khi kinh doanh có hiệu quả kinh doanh mới có điều kiện thực hiện tốt nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. • Đối với người lao động: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp chi phối rất nhiều tới thu nhập của người lao động ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất, tinh thần của họ.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cao mới đảm bảo cho người lao động có được việc làm ôn định, đời sống vật chất, tình thần cao, thu nhập cao. Ngược lại, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thấp sẽ khiến cho người lao động 5 có một cuộc sống không ổn định, thu nhập thấp và luôn đứng trước nguy cơ thất nghiệp. Nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống của người lao động trong doanh nghiệp. Nâng cao đời sống người lao động sẽ tạo động lực trong sản xuất, làm tăng năng suất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.3 Bản chất Thực chất là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tình cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Đe đạt được mục tiêu kinh doanh, các công ty buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy, yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.
Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của việc hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện công việc kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bồ sung vào chi phí kế toán thực sự. Cách hiểu như vậy sẽ khuyến khích nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng có hiệu quả.
Cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của đơn vị tại một thời điểm nhất định, theo hai cách phân loại là kết cấu nguồn vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khái niệm và ý nghĩa Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKỌKD) là một báo cáo tài chính kế toán tông hợp phản ánh tông quát doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán. Báo cáo kết quả kinh doanh là tài liệu quan trọng cung cấp số liệu cho người sử dụng thông tin có thể kiểm tra phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và các doanh nghiệp khác trong cùng ngành đê nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định quản lý và quyết định tài chính cho phù hợp.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyên tiền tệ là báo cáo tài chính tông hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở đê đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp.4 Thuyết minh báo cáo tài chính Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo kế toán tài chính tông quát nhằm mục đích giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà chưa được trình bày đầy đủ, chi tiết hết trong các báo cáo tài chính khác. Căn cứ chủ yếu đê lập bản Thuyết minh báo cáo tài chính là: ❖ Bảng cân đoi kế toán của kỳ báo cáo ❖ Báo cáo kểt quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo ❖ Báo cáo thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước ❖ Tình hình thực tế của doanh nghiệp và các tài liệu khác có liên quan.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp - Một sô chỉ tiêu chính Theo quan điêm của tác giả Charles H.Gibson trong giáo trình “Finance reporting and analysis”, tỷ lệ thanh khoản giúp đánh giá khả năng của một Công ty trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính hiện tại của nó. Chúng có thể bao gồm các tỷ lệ đo lường hiệu quả của việc sử dụng các tài sản hiện tại và nợ ngắn hạn. Khả năng duy trì năng lực thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của một doanh nghiệp là một chỉ tiêu mà tất cả các chủ thể sử dụng báo cáo tài chính đánh giá là hết sức quan trọng.
Neu một doanh nghiệp không thể giữ vừng khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, họ sè không thể duy trì khả năng thanh toán nợ dài hại hay thỏa mãn yêu cầu của các cô đông. Ngay cả một doanh nghiệp kinh doanh rất có lãi cũng sẽ lâm vào tình trạng phá sản nếu họ không thê hoàn thành được những nghĩa vụ thanh toán nợ ngắn hạn đối với bên cho vay. Khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn cũng liên quan đến khả năng sản sinh ra các dòng tiền của doanh nghiệp đó.