Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu tong quan về cây cà chua 1. Sơ lược về cây cà chua Cây cà chua có tên khoa học là Solanum lycopersicum L., thuộc họ Ca (Solanaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Là loại cây rau ăn quả có giá trị cao, có sản lượng chiếm 1/6 tổng sản lượng rau hàng năm trên thế giới và luôn đứng ở vị trí số 1 về sản lượng.
Cà chua là cây trồng phô biến và được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới đặc biệt là ở các vừng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới (theo Somraj va ctv, 2017) cùng với Nalla và ctv (2016)). Theo t6 chức nông lương thực thế giới (FAO, 2020), diện tích trồng cà chua thế giới vào khoảng 5.983 ha với sản lượng 186. Đặc điểm thực vật học cây cà chua Cây cà chua thuộc dạng rễ chùm, ăn sâu và có sự phân nhánh mạnh, sự tái sinh hệ rễ cà chau mạnh, có thể phát triển rễ phụ lớn. Khi gặp điều kiện thích hợp, rễ có thé ăn sâu từ 1 — 1,5 m và rộng từ 1,5 — 2,5 m.
Thân thắng đứng, mong nước và có nhiều lông phủ xung quanh, khi trưởng thành gốc thân dần hóa gỗ. Thân mang lá và phát hoa, ở phan nách lá có chồi nách mọc ra. Là loại lá kép lông chim phân thủy, số lượng thùy không có định. Mỗi lá có từ 3 -4 cặp lá chét, ngọn lá có 1 lá riêng gọi là lá đỉnh.
Rìa lá chét đều có răng cưa sâu tùy giống. trên bề mặt lá thường phủ một lớp lông tơ. Hoa thường mọc thành chùm, cà chua là cây lưỡng tính tự thụ phan là chính. Số lượng hoa trên cà chua thay đổi tùy vào mỗi giống và thời tiết, thường mỗi chùm có từ 5-20 hoa.
Cà chua thuộc loại quả mọng nước, hình dang thay đối tùy thuộc vào từng loại giống (thay đổi từ tròn, bầu dục đến đài) và có lớp vỏ trơn láng hay có khía, có lông khi còn xanh. Thường màu sắc quả là sự phối hợp giữa màu vỏ qua và thịt quả. Trong quả cà chua xanh có chứa chất độc tomatine, lượng chất này sẽ giảm dần theo độ chín của quả và biến mắt khi quả chín đỏ. Điều kiện sinh trưởng của cây cà chua: Nhiệt độ thích hợp dé cây cà chua sinh trưởng và phát triển tốt nhất là từ 21 - 24°C.
Cà chua là cây ưa sáng, không nên gieo won cây con ở nơi có bóng ram, cường độ ánh sáng tối thiểu dé cây sinh trưởng khá mạnh là 2000-3000 lux, không chịu ảnh hưởng quang kỳ. Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển và sinh trưởng của cây cần cung cấp lượng nước khác nhau cho cây cà chua. Khi cây ra hoa đậu trái hoặc trái đang phát triển là thời điểm cây can nhiều nước. Nếu dat bị thừa nước, hệ thống rễ cây sẽ bị tốn thương và có thể bị thối, gây bệnh cho cây.
Tong quan về nam Fusarium sp. Giới thiệu nắm Fusarium sp. Vị trí phần loại: Chi nam Fusarium được giới thiệu bởi Link vào năm 1809. Hiện được mô ta là một chi nam có số lượng đặc biệt lớn, trên một nghìn loài.
Nam Fusarium là vi sinh vật hiếu khí thuộc lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes), thuộc lớp nam nang (Ascomycetes). Chi Fusarium là chi nam lớn nhất trong Tubeeculariaceae, chúng hoại sinh hoặc kí sinh trên nhiều cây trồng, cây ăn trái và cây rau. Hệ sợi nấm lan tỏa khắp mô mach và lap kin mạch gỗ. Sự lấp kín mạch gỗ sẽ cản trở quá trình vận chuyển nước là nguyên nhân gây héo cây.
Hệ sợi nam phân nhánh, có vách ngăn, sợi nam thường không màu, chuyên màu nâu khi già. Hệ sợi nam sản sinh độc tô tiệt vào hệ mach gây héo cây chủ. Cơ thể dinh dưỡng đa bào, phân nhánh phức tạp, vách ngăn có lỗ thủng đơn giản ở giữa. Trong một tế bào có một nhân hoặc nhiều nhân.
Vách tế bào bằng chitin, glucan. Nam sống hoại sinh hoặc ký sinh trên thực vật, gặp phổ biến trong đất cũng như vật liệu cellulose (Nguyễn Lân Dũng và ctv, 1982). Nam Fusarium có thé tồn tại trong đất đưới dạng bảo tử áo qua thời gian dài, bao tử áo có thé lưu tồn trong đất từ 15-20 ngày. Nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển là 25 — 30°C.
Bệnh lây lan qua thân rễ, đất bị nhiễm bệnh và truyền qua giống, ngoài sự lây lan thứ cấp của bệnh có thé được thực hiện qua nguồn nước và cơ giới thường tan công cây trồng dé dàng khi bị thiếu ánh sáng. Nam Fusarium phát triển nhanh trên môi trường PDA ở nhệt độ 25°C và hình thành tản nấm có hình thé tơi xốp như bông, bằng phẳng hoặc lan rộng trên môi trên môi trường nuôi cấy. Mặt trên của tản nấm có thể có màu trắng, kem, vàng, vàng cam, đỏ, tím hồng hoặc tím. Mặt dưới có thể không màu, vàng cam, đỏ, tím sam hoặc nâu.
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì các loài Fusarium khác nhau sẽ phân bố ở vùng điều kiện địa lí khác nhau. Sự thay đổi trong cấu trúc và đa dạng nam có thé do kết hợp với các vùng khí hậu đặc biệt trên thé gi01. Dac diém hinh thai nam Fusarium sp. Nấm có ba dang bao tử: bào tử đính lớn (Macrocodinidia), tiểu bao tử đính (Microcodinidia) và bào tử hậu (Chlamydospores).
Bao tử đính lớn (Macrocodinidia) có một đến nhiều vách ngăn, hình lưỡi liềm sinh ra từ cuống bao tử. Đầu và cuốn bao tử lớn thuôn nhọn. Một vài bào tử lớn tách rời và không gắn trên cuống bảo tử. Tiểu bao tử đính (Microcodinidia) được hình thành từ cuống bảo tử phân sinh phân nhánh hoặc không phân nhánh, mọc trực tiếp từ sợi nắm hoặc tụ lại thành dạng bọc giả trên đầu cành hoặc hình thành dạng chuỗi (Vũ Triệu Mân và ctv, 1998).
Tiểu bào tử đính thường không có hoặc có từ một đến hai vách ngăn. Hình dạng có các dạng phổ biến như sau: hình oval, hình thận, hình quả trứng ngược, hình quả lê, hình củ cải, hình cầu, hình trục chính. Bào tử hậu (Chlamydospores) có dạng như hình tròn hoặc hình trứng, vách day, nam tận cùng hoặc chen giữa các sợi nam già. Chúng có thé phát triển don hoặc thành chuỗi.
Trong trường hợp bào tử gặp điều kiện thuận lợi chúng tách ra và mọc trên các ống mầm. Bảo tử hậu rất bền và có khả năng tồn tại trong thời gian đài. Hình thức sinh sản Fusarium có 2 hình thức sinh sản: sinh sản sinh dưỡng và sinh sản vô tính. Do thiếu sinh sản hữu tính trong vòng đời nên người ta gọi chung là nam không hoàn chỉnh hoặc nam bất toàn.
Sinh sản sinh dưỡng Soi nam: từ 1 sợi nắm riêng rẽ, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ sinh trưởng và phân nhánh thành hệ sợ nam. Bao tử hậu (bao tử mang day, bao tử áo): Bao tử hậu là những tế bào hơi tròn, có tế bào chất được cô đặc lại, có màng dày bao bọc, thỉnh thoảng có bào tử hậu với vách tế bao xù xì hoặc có sắc tố. Ở bảo tử này, chất dinh dưỡng được chuyên từ tế bào kế bên sang tế bào ưu tiên làm tế bảo phông lên, chưa nhiều chất dự trữ và có thể chịu đựng những điều kiện bat lợi trong một thời gian khá dài. Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng sẽ nảy mam và phát triển thành sợi nam mới.
Bảo tử hầu có thể nằm ở giữa SỢI nam hoặc dau tận cùng của nó, có thể ở dạng đơn lẻ, dạng cặp đôi, dạng chuỗi hay dạng cụm. oxysporum, bao tử hậu thường ở dạng don, đôi, thỉnh thoảng dạng ba và ít khi có dạng cụm. Tuy nhiên, có một số loài (đặc biệt là F. proliferatum) có sợi nấm kí sinh với chuỗi những tế bào phinh to, rất dé bị nhầm là bao tử hậu.
Một số loại Fusarium có tạo bao tử hậu như t. Sinh sản vô tình Bảo tử đính thường được hình thành ở các loài nam bất toàn. Da số bao tử đính thường sắp xếp thành chuỗi, có khi thành từng khối. Một số bào tử đính nằm đơn độc từng cái một trên cuống bảo tử đính.
Cuống bào tử đính có thể đơn bào hoặc đa bào, không phân nhánh phân nhánh hoặc phân nhiều nhánh, mọc riêng lẻ hay sắp xếp từng cụm. Ở cùng loài Fusarium thì bao tử đính thường là bào tử ngoại sinh, có 2 loại: bào tử đính lớn và bào tử đính nhỏ. Bào tử đính lớn: bào tử trong suốt, được hình thành từ thể bình trên cành bao tử có nhánh hay không có nhánh. Sự phân bố Fusarium phân bố rộng khắp trên toàn thế giói.
Chúng phổ biến ở các vùng nhiệt đới, ôn đới và cũng được tìm thấy ở các khu vực sa mạc, núi cao, vùng lạnh giá va noi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt (Booth, 197]). Nhiều loài Fusarium xuất hiện rất nhiều ở đất trồng trọt, màu mỡ, nhưng lại ít phổ biến ở đất rừng. Các loài Fusarium thường được coi là nắm sống trong đất vì chúng có nhiều trong dat và thường liên kết với rễ cây như kí sinh hoặc hoại sinh. Các tác nhân gây bệnh héo Fusarium tồn tại dưới dang bào tử hậu trong đất qua thời gian dài.
Bào tử hậu có hình tròn, là các bảo tử một tế bào cới vách tế bào day và có sức chống chịu cao, được hình thành trong mô bệnh. Các tác nhân gây bệnh héo Fusarium cũng có thé có mặt ở vỏ rễ một số cây không phải là ký chủ, kế cả cỏ dại và cây trồng. Bào tử hậu hình thành trong vỏ rễ khi cây chết. Sự lan truyền và xâm nhập Soi nấm và bào tử nảy mầm trong tàn dư thực vật cây bệnh và đất xâm nhiễm vào rễ con còn non và lan dan vào mach xylem.
Nam bệnh sau đó sẽ phát triển trong mạch xylem và lan truyền lên hệ thống mạch dẫn trong thân. Quá trình nay gây phan ứng của cây, tạo ra các hợp chat phenol và thé san có mau nâu. Những hợp chất này gây hiện tượng hóa nâu của mạch dẫn, một dấu hiệu dé nhận thấy của bệnh héo khi cắt ngang thân. Hiện tượng tắc mạch xylem làm giảm lượng nước di chuyền lên cay, khiến cho cây bệnh bị héo rồi chết.
Tổng quan nam cộng sinh Mycorrhiza 1. Giới thiệu, phân loại nắm cộng sinh Thuật ngữ “Mycorrhiza” đã được Frank đặt vào năm 1885 dé mô tả sự liên kết cộng sinh của rễ cây và nấm, có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp: Mykes (nam) và Rhiza (rễ). Nam rễ cộng sinh là một nhóm nam có lợi sống cộng sinh với rễ thực vật, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và sinh sản của thực vật.