Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận của đề tài Để phát triển Lâm Nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung thì đất đai là một tư liệu sản xuất quan trọng không thể thiếu. Trong những năm gần đây,bằng nhiều chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước đã góp phần rất lớn vào công cuộc đổi mới nông thôn nước ta.
Nó đã phát huy được tác dụng như: tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn… Bên cạnh đó, tài nguyên rừng ở nước ta rất đa dạng và phong phú. Hằng năm rừng cung cấp nhiều loại hàng hóa phục vụ cho các ngành kinh tế như gỗ và các loại lâm đặc sản khác. Ngoài những vai trò to lớn đó, rừng còn có nhiều tác dụng trong các lĩnh vực như phòng hộ, môi trường sinh thái và cảnh quan. Có thể nói rừng có vai trò và tác dụng quan trọng không gì thay thế được trong nhiều lĩnh vực, nó luôn gắn bó với đời sống con người.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây tài nguyên đất và rừng ở nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân chính của tình trạng này là đất và rừng không có chủ thực sự dẫn đến tình trạng khai thác sử dụng bừa bãi quá mức. Với nhận thức là ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi thì trước tiên phải ổn định tình hình đất đai và tài nguyên rừng. Trong hoàn cảnh như vậy một loạt các chính sách về giao đất giao rừng đã được ban hành.
Theo đó đất và rừng được giao đến tận tay người dân để sản xuất, kinh doanh theo quy định của Nhà nước và pháp luật, mỗi mảnh đất rừng đã có chủ quản lý thực sự. Giao đất lâm nghiệp là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tạo sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xã hội ở địa bàn nông thôn, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Qua những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể thấy được chính sách giao đất giao rừng thực sự có vai trò rất lớn trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Chính sách giao đất giao rừng thực sự đã trở thành đòn bẩy để phát triển kinh tế Lâm nghiệp và 4 nông thôn.
Đồng thời nó cũng thể hiện sự biến đổi to lớn từ sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang sản xuất lâm nghiệp có sự tham gia của toàn xã hội. Việc tìm hiểu về chính sách giao đất giao rừng sẽ giúp chúng ta có cài nhìn đúng đắn hơn về công cuộc bảo vệ và phát triển rừng ở nước ta hiện nay. Đối với địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có hơn ¾ diện tích đất tự nhiên là đồi núi, tài nguyên đất đai chủ yếu là đất lâm nghiệp, tài nguyên rừng. Kinh tế phát triển chiếm tỷ trọng chủ yếu từ nông lâm nghiệp.
Trong thời gian qua khi có các chính sách của Đảng, cũng như pháp luật Nhà nước quy định về việc quản lý sử dụng đất đai nói chung, lĩnh vực đất lâm nghiệp nói riêng, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã quan tâm thực hiện. Cơ bản hoàn thành việc giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp đến tận hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng phát triển kinh tế, cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Cơ sở thực tiễn của đề tài Nhà nước đã ban hành nhiều Luật, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị. về giao đất lâm nghiệp nhằm gắn lao động với đất đai, tạo động lực phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, từng bước ổn định kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.
Người sử dụng đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xác định trong Luật đất đai. Những quyền này tạo sơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về việc sử dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, tạo điều kiện tích tụ ruộng đất phù hợp, thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thâm canh đất đai, đổi mới cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá cây trồng, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường theo hướng một nền nông lâm nghiệp bền vững. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991. - Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
5 - Thông tư số 06-LN/KL ngày 18/6/1994 của Bộ Lâm nghiệp hướng dẫn thi hành Nghị định 02/CP-1994 về giao đất lâm nghiệp. - Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. - Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. - Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001.
- Luật Đất đai 2003 ngày 26/11/2003. - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003. - Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 được Quốc hội khóa 11 thông qua ngày 03/12/2004 quy định về việc quản lý và bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng. - Thông tư số 38/2007/TT-BNNPTNT ngày 25/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.
- Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên Môi trường về việc hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp. Khái quát về công tác giao đất lâm nghiệp 1. Khái niệm về giao đất Theo quy định tại Luật đất đai năm 1993, 2003 và các văn bản hướng dẫn thì hành Luật đều có khái niệm: Giao đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư…) bằng quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Khái niệm về đất lâm nghiệp Theo Thông tư số 08/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiện là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng).
Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [6]. Phân loại đất lâm nghiệp Theo Luật đất đai năm 2003, quy định Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, cụ thể: - Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất. - Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ. - Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng.
Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng là UBND cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, tổ chức, tổ chức tôn giáo…là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hạn mức giao đất lâm nghiệp Theo Điều 70, Luật Đất đai năm 2003, hạn mức giao đất Hạn mức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá ba mươi héc ta đối với mỗi loại đất. Thời hạn sử dụng đất lâm nghiệp - Thời hạn sử dụng đất: Theo Điều 69, Luật Đất đai năm 2003, thời hạn sử dụng đất lâm nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân là 50 năm tính từ thời điểm được giao đất [6]. Chính sách về đất lâm nghiệp trên thế giới và ở việt nam 1.
Chính sách về đất lâm nghiệp ở một số nước trên thế giới 1. Chính sách đất đai ở Thái Lan Tại Thái Lan Luật ruộng đất được ban hành năm 1954 đã thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế xã hội của đất nước, theo đây có thể được mua bán, chuyển nhượng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này Luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế độ luân canh vừa. Bên cạnh đó việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu thừa đất do việc phân hoá giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp.
Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển.