CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu chung : Một dự án thành công là mục đích cao nhất mà tất cả các bên liên quan khi tham gia dự án đều muốn đạt được. Năm 2012 ngành xây dựng Việt Nam đang bị cảnh báo sụt giảm. GDP do ngành xây dựng tạo ra nếu quý I năm 2011 tăng 4,41%, thì quý I năm 2012 lại bị giảm 3,8% (báo Đầu tư, 2012). Sự quản lý của các dự án xây dựng cũng đang đ ối mặt với những khó khăn.
Theo đánh giá của Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam năm 2011 thì hầu hết các dự án đầu tư tại Việt Nam đều chậm tiến độ và tỷ lệ đạt tiến độ chiếm chưa tới 1%. Nghiên cứu của Văn & Thức (2011) khảo sát các đối tượng đã từng tham gia thực hiện các dự án trên địa bàn Tp HCM trong vòng 5 năm trở lại cho thấy các dự án đều chậm tiến độ với tỷ lệ 59,1% dự án chậm tiến độ từ 8-15%; 30% dự án chậm tiến độ từ 15-25%; và 10,9% dự án chậm tiến độ dưới 8%. Đi liền với chậm tiến độ và vượt chi phí các dự án còn phải thường xuyên đối mặt với sự thất bại, giảm lợi nhuận và mất lòng tin của người dân đối với các dự án nhà nước (Le- hoai, Lee, & Lee, 2008). Tại Việt Nam, mặc dù có rất nhiều dự án xây dựng đã hoàn thành, vài công trình trọng điểm bị phát hiện nhiều lỗi nhưng cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu chuyên sâu nào về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án (Ling & Bui, 2010).
Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 2 GVHD: TS. Lê Hoài Long 1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu: Sự thành công hay thất bại của 1 dự án thông thường được đánh giá bởi 3 nhân tố chính đó là chi phí, tiến độ, chất lượng (Hoffman, Jr, Webb, & Weir, 2007). Đo lường sự thực hiện của các nhân tố này chính là điểm mấu chốt tạo nên sự thành công của dự án. Tại sao các nhà quản lý lại muốn đo lường sự thực hiện? Theo Robert D.
Behn (2003), bởi vì họ muốn đạt được 8 mục đích quản lý quan trọng: sử dụng thước đo sự thực hiện để đánh giá, kiểm soát, ngân sách, thúc đẩy, xúc tiến, đánh dấu, nghiên cứu và cải tiến. Tuy nhiên, đo lường hay đánh giá sự thực hiện của một dự án là một vấn đề khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, công sức. Trong khi đó nhà quản lý cần phải ước lượng một cách nhanh chóng để đưa ra quyết định kịp thời. Các nhà thầu muốn đo lường sự thực hiện để biết được họ cần phải làm thế nào để đạt được công việc.
“Nếu bạn muốn cải thiện cái gì, hãy đo lường cái đó” (Wegelius-Lehtonen, 2001). Nghiên cứu này nhằm tìm ra một mô hình cho thấy một cái nhìn sâu bên trong các mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa các nhân tố cốt lõi ảnh hưởng đáng kể đến sự thực hiện của các dự án xây dựng tại Việt Nam, chứ không phải chỉ đơn thuần là xem xét các nhân tố độc lập khi đánh giá chúng.3 Mục tiêu nghiên cứu : Xác định các yếu tố tác động đáng kể đến sự thực hiện dự án trong các khía cạnh về tiến độ, chi phí, chất lượng. Xây dựng mô hình thể hiện các mối quan hệ giữa các yếu tố với nhau và với kết quả thực hiện dự án. Định lượng ảnh hưởng của các nhân tố chính đến sự thực hiện dự án.
Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 3 GVHD: TS. Lê Hoài Long 1.4 Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu này chỉ xét đến sự thực hiện dự án trong các khía cạnh về tiến độ, chi phí, chất lượng. Nghiên cứu này được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vào khoảng từ giữa năm 2012 đến giữa năm 2013. Dữ liệu thu thập được chủ yếu là các dự án có quy mô lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận phía nam.
Nghiên cứu dựa trên nhận thức của các bên liên quan như chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu trong quá trình thực hiện dự án.5 Đóng góp của nghiên cứu : Qua đề tài này tác giả mong muốn đóng góp thêm một cái nhìn trực quan, toàn diện hơn về nghiên cứu dự báo, đánh giá sự thực hiện ở Việt Nam. Về mặt học thuật : Đề tài góp phần hệ thống hóa lại các yếu tố tác động tới sự thực hiện dự án và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng trên cả ba khía cạnh tiến độ, chi phí, chất lượng của sự thực hiện dự án. Mô hình SEM tạo ra một cách tiếp cận mới trong phương pháp nghiên cứu đánh giá sự thực hiện ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn : mô hình giúp cho các nhà quản lý nhận biết, định lượng được ảnh hưởng của các nhân tố chính đến sự thực hiện dự án thay vì ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố riêng lẻ như các phương pháp truyền thống khác.
Cải thiện được sự thực hiện dự án một cách hiệu quả hơn nhờ đánh giá được các chiến lược thay thế trong giai đoạn thực hiện dự án. Mô hình sẽ giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về tổng thể các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới sự thực hiện, chứ không phải chỉ xem xét từng nhân tố riêng rẻ khi đánh giá chúng. Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Trang 4 CHƯƠNG 2.1 Giới thiệu về mô hình cấu trúc tuyến tính SEM : Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modelling) hay còn gọi là mô hình nhân quả là một kỹ thuật mô hình thống kê rất tổng quát, được sử dụng rộng rãi trong khoa học nghiên cứu hành vi (Phạm Đức Kỳ, 2008). Nó nghiên cứu cấu trúc của các mối liên hệ thể hiện trong một loạt các phương trình, cũng gi ống như một loạt các phương trình hồi quy đa bội (Hair, Black, Babin, & Anderson, 2010).
Theo Schumacker & Lomax (2004), có 4 loại mô hình liên quan với nhau và được sắp xếp theo thứ tự phát triển đó là : Hồi quy (regression), đường dẫn (path), phân tích nhân tố khẳng định (confirmatory factor) và mô hình cấu trúc tuyến tính (structural equation models). Mô hình SEM về cơ bản là sự kết hợp giữa mô hình đường dẫn (path models) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA), nghĩa là nó k ết hợp cả 2 biến tiềm ẩn và biến quan sát. Vì vậy mô hình SEM bao gồm biến quan sát và biến tiềm ẩn, chúng có thể là biến độc lập hay biến phụ thuộc. SEM thường được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết về các mối quan hệ tiềm năng giữa các khái niệm, các biến đo lường hoặc dùng để đo lường, đánh giá chúng.
Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 5 GVHD: TS. Lê Hoài Long SEM được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực tâm lý học, marketing, quản lý chiến lược… Tuy nhiên lý thuyết về SEM khá phức tạp dưới góc độ toán học. Vì vậy Steiger (2001) lưu ý r ằng các nhà nghiên cứu có thể không có đủ kiến thức để sử dụng SEM một cách chính xác bởi vì một số sách đã bỏ qua nhiều vấn đề quan trọng.1 Mô hình SEM, Path model, CFA Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 6 GVHD: TS. Lê Hoài Long Hình 2.1 minh họa cho 3 mô hình: Mô hình phân tích đường dẫn (Path analysis model): các biến quan sát ảnh hưởng trực tiếp với nhau.
Mô hình phân tích nhân tố khẳng định (CFA): các biến tiềm ẩn và các biến quan sát ảnh hưởng trực tiếp, nhưng giữa các biến tiềm ẩn không có ảnh hưởng trực tiếp mà chỉ có sự tương quan với nhau. Mô hình cấu trúc tuyến tính (structural equation models): giữa các biến tiềm ẩn có thể ảnh hưởng trực tiếp. Năm bước để xây dựng mô hình SEM: Định rõ các nhân tố riêng lẻ, các nhân tố nào sẽ là biến đo lường. Phát triển và định rõ mô hình đo lường.
Đánh giá sự hợp lý của mô hình đo lư ờng. Định rõ mô hình cấu trúc: chuyển đổi mô hình đo lường thành mô hình cấu trúc bằng cách gán các mối liên hệ của một nhân tố tới các nhân tố khác. Đánh giá sự hợp lý của mô hình cấu trúc.2 Các thành phần cơ bản của mô hình SEM: Các khái niệm (constructs/factors): hay còn gọi là biến tiềm ẩn (Latent variable) chúng không thể được đo lường trực tiếp. Có 2 loại biến tiềm ẩn: biến nội sinh và biến ngoại sinh.
Biến ngoại sinh (Exogenous): được sử dụng như một biến độc lập dự báo cho các biến khác trong mô hình. Chỉ có các mũi tên đi ra từ chúng. Biến nội sinh (Endogenous): được sử dụng như biến phụ thuộc. Có thể có nhiều mũi tên hướng vào chúng.
Các chỉ số (indicators): hay còn gọi là biến quan sát (Observed variable) được sử dụng để xác định biến tiềm ẩn. Ký hiệu: Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 7 GVHD: TS. Lê Hoài Long Sai số đo lường: lượng biến thiên trong biến quan sát do sai số đo lường. Sai số của các biến nội sinh: lượng phương sai không giải thích được trong các biến nội sinh.
Các mối liên hệ: Mũi tên 1 chi ều: thể hiện mối quan hệ đơn hướng Mũi tên 2 chi ều: hiệp phương sai hay sự tương quan. Các tham số ước lượng: Hình 2.2 Mô hình SEM với hai biến tiềm ẩn. Các hệ số tải (Loadings): giống hệ số tải nhân tố, thể hiện mối liên hệ giữa biến tiềm ẩn với biến quan sát giống như trong phân tích nhân tố. Các hệ số đường dẫn (paths estimate): hay còn gọi là trọng số hồi quy, giống hệ số beta weight trong mô hình hồi quy.
Các phương pháp ước lượng: Hai phương pháp ước lượng thường được sử dụng nhất là Maximun likelihood (ML) và Generalized least square (GLS). Hai phương pháp này đòi hỏi kích thước mẫu lớn, dữ liệu liên tục, và phải giả định dữ liệu phân phối chuẩn đa biến (multivariate normality). Unweighted least square (ULS) : Không cần giả định phân phối chuẩn, không có kiểm tra mức ý nghĩa th ống kê. The asymptotically distribution free (ADF) : Không cần giả định phân phối chuẩn, tuy nhiên cần kích thước mẫu lớn.
Học Viên: Phạm Võ Văn Minh MSHV: 10080293 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 8 GVHD: TS. Lê Hoài Long 2.