Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TRÊN THẾ GIỚI.1 Khái niệm về dự án. Theo Cleland và King (1975) thì coi dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và tài lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu định trước. Clipdap cho rằng dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn đề hay để hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong một thời gian xác định. Gitinger (1982) đưa ra quan điểm: dự án là một tập hợp các hoạt động mà ở đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại.
Trong quá trình này các công việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, được thực hiện trong một thời gian xác định [48]. Từ điển xã hội học của David Jary and Julia Jary(1991)[46], đưa ra định nghĩa về dự án như sau: những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng. Theo định nghĩa này có thể hiểu dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể. Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng.
Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, đầu tư như thế nào.) mà là nó có góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nhận thức về phát triển kinh tế, xã hội, môi trường trong cộng đồng nông thôn miền núi hay không.2 Quan niệm về đánh giá dự án. Đánh giá dự án có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý và thực hiện dự án, đánh giá dự án để đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả 4 thực hiện các hoạt động dự án và những hiệu quả cũng như những tác động của dự án trên cơ sở so sánh một số tiêu trí, chỉ tiêu đã lập trước, hay nói cách khác, đánh giá dự án là quá trình xem xét một cách có hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với các mục tiêu đã vạch ra. Trong bất cứ một dự án nào vai trò của các bên liên quan tham gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thì công tác đánh giá hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên quan. Đánh giá hiệu quả dự án có sự tham gia là một hệ thống phân tích được thực hiện bởi các nhà quản lý dự án và các thành viên được hưởng lợi từ dự án, cho phép họ điều chỉnh, xác định lại các chính sách hoặc chiến lược mục tiêu, nội dung, phương pháp triển khai, sắp xếp lại tổ chức, nguồn lực nếu cần thiết.
Nó là cơ hội cho cả người bên trong cuộc và người bên ngoài cộng đồng nhìn nhận, phản ánh đúng quá khứ, hiện tại và vạch ra định hướng cho tương lai. Therse Barker, WHO[54],[60] cho rằng việc đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra nhận định. Đây là một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là hệ thống các hoạt động, các nguồn lực đã được triển khai và sử dụng như thế nào? Đối với một dự án, đánh giá là xem xét dự án một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của dự án, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế - môi trường đối với cộng đồng thụ hưởng (FAO) [56]. Hoạt động đánh giá dự án là một khâu quan trọng, được đánh giá tổng thể trong quá trình thực hiện dự án, không chỉ thực hiện một lần vào khi dự án kết thúc mà phải thực hiện trong những giai đoạn quan trọng trước, trong và sau dự án (Gittinger, 1982)[48].
Nhiều tác giả đề nghị rằng, điều quan trọng phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng là những người hưởng lợi từ dự án, nhà quản lý dự án [45]. 5 Một số tác giả và các tổ chức trên thế giới như: Jim Woodhill và Lisa Robins [59], Joachim và Heather. đã phân chia hai loại đánh giá dự án: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình. Đánh giá mục tiêu xem xét liệu dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc phân tích các chỉ tiêu, chỉ số đo đạc hiệu quả tác động thu được.
Đánh giá tiến trình là đánh giá mở rộng hơn so với loại đánh giá trên, nó sử dụng tri thức và sự hiểu biết của nhiều người cùng xem xét nhiều vấn đề của dự án. Các phương pháp đánh giá dự án cũng được phát triển mạnh mẽ từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước, khi các dự án phát triển cộng đồng ra đời. Các phương pháp đánh giá bao gồm: Điều tra khảo sát (Survey); Phỏng vấn sâu (indepth interview); Thảo luận nhóm tập trung (focus group); Bảng câu hỏi (Questionaire); Họp với những người thụ hưởng (meeting); Nhật ký theo dõi dự án (Project montitoring diary); Tranh ảnh (Photorgrap); Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (Participatory Rural Apraisal (PRA)). Những hình thức khuyết khích sự tham gia của cộng đồng như đóng kịch, sắm vai, bài hát, hội thi.cũng được khuyến khích sử dụng để chính người dân địa phương tại cộng đồng thụ hưởng thấy được những kết quả cụ thể của dự án.
Theo FAO [47], thì đánh giá về mặt kinh tế thường dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính trong suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng rừng, phải sau một khoảng thời gian dài thì chúng mới tạo ra một đầu ra nhất định, đồng thời lại có những tác động về môi trường có thể còn có tác dụng lâu dài hơn nhiều so với dự án sau khi kết thúc. Vậy thì vận dụng khoảng thời gian nào là đánh giá thích hợp? Theo Lyn Squire [47] đã chỉ ra rằng, trong trường hợp các chi phí hoặc lợi ích môi trường kéo dài trong tương lai thì các lợi ích và chi phí đó phải được đưa vào phân tích. Không phải là do dự án đã kết thúc về mặt hành chính mà chúng 6 ta phải bỏ qua các lợi ích và chi phí về môi trường. Tuy nhiên thực tế do vấn đề tỷ suất triết khấu và lý do muốn giản đơn việc tính toán đã làm cho nhiều người chọn các thời hạn phân tích và đánh giá ngắn hơn nhiều, đối với các dự án quản lý rừng đầu nguồn hoặc trồng rừng thì thời hạn đánh giá phải đủ lớn chừng 15 đến 20 năm để thấy đầy đủ và rõ ràng về các lợi ích về chi phí kinh tế.
UNEP [59] đã xây dựng bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển. Đây là một phương pháp nghiên cứu chính thức để dự báo các tác động môi trường của dự án phát triển chủ yếu đang được dự kiến, nhưng cũng có thể vận dụng để đánh giá những tác động đã qua đối với môi trường. Việc đánh giá tác động môi trường nhằm trả lời 5 câu hỏi: Điều gì sẽ xẩy ra sau khi dự án kết thúc? Phạm vi của các biến đổi đó là gì? Các biến đổi thực sự có phải là vấn đề lớn không? Có thể làm gì đối với chúng? Cần phải thông báo cho những người ra quyết định như thế nào về những việc phải làm?.M Gregensen và Brooks [59] cho rằng bất cứ khi nào có một sự phát sinh mới của một dự án như: công ăn việc làm mới, khu vực canh tác mới, sản lượng mùa màng tăng… thì nhà đánh giá phải xác định phần nào là lợi ích gia tăng của dự án, chứ không phải là các lợi ích thô. Mặt khác, do các tác động ở quy mô địa phương phụ thuộc vào dòng chu chuyển của các nguồn lực thực tế, và việc đánh giá sẽ dùng các chi phí tiền mặt và thu nhận tiền mặt, nên trên thực tế, đó là một phần tích hoặc là một đánh giá tài chính chứ không phải là một đánh giá kinh tế mang tinh xã hội, tất cả các tác động có lợi của dự án phải được tính về cả các số lượng và chất lượng.2 TẠI VIỆT NAM.1 Quan niệm về dự án ở Việt Nam.
Dự án như là một tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định nhằm tạo ra những kết quả cụ thể để thực hiện những mục tiêu 7 nhất định. Thực hiện một dự án là nhằm tạo ra những điều kiện cải thiện tình trạng kinh tế và xã hội của cộng đồng mà chúng ta muốn giúp đỡ. Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế và xã hội. Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra; chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn lực; phải thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn [43].
Dự án là một danh từ được dùng tương đối rộng rãi ở nước ta trong những năm gần đây. Có thể là các dự án do Chính phủ tiến hành, lớn hơn là các dự án liên Chính phủ, nhỏ hơn là các dự án do một tỉnh, huyện, xã, một tổ chức kinh tế xã hội làm chủ. Tầm quan trọng của các dự án phụ thuộc vào cấp quản lý, vào các mục tiêu can thiệp cũng như tổng số vốn tương ứng, thời gian tiến hành [42]. Dự án là một tập hợp các hoạt động theo không gian và thời gian nhằm đáp ứng một hoặc một số mục tiêu nào đó do con người đưa ra.
Vũ Nhâm có đưa ra mô hình khái niệm về dự án như sau [28]: Mục tiêu phát triển Mục tiêu trước mắt Thời gian dự án Hiện tại Mong muốn 8 Nguyễn Thị Oanh [30] đưa ra 2 định nghĩa về dự án như sau: - Dự án là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt một hoặc một số mục tiêu đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những nhân tố và tổ chức cụ thể.