Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng đất đai manh mún và phân tán từ lâu đã trở thành một rào cản lớn đối với tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp tại Việt Nam. Sau khi thực hiện giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP năm 1993, cả nước ước tính có khoảng 75 đến 100 triệu thửa ruộng nhỏ lẻ, trung bình mỗi hộ nông dân quản lý từ 7 đến 8 thửa đất rải rác ở nhiều xứ đồng. Bối cảnh này dẫn đến chi phí lao động tăng cao, khó đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng và làm giảm hiệu quả kinh tế trên một đơn vị canh tác. Tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình - địa bàn ven biển với diện tích tự nhiên 215,7 km² và tổng diện tích đất nông nghiệp lên đến 13.972,8 ha (chiếm 64,77% diện tích tự nhiên) - tình trạng manh mún ruộng đất trước năm 2011 cũng diễn ra tương tự, gây cản trở lớn đến việc triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới.

Đề tài tập trung giải quyết hai mục tiêu cốt lõi: đánh giá toàn diện hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa gắn với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Sơn, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu được xác lập tại toàn bộ 25 xã và 02 thị trấn của huyện Kim Sơn trong giai đoạn 2011 - 2015, kết hợp khảo sát thực địa chuyên sâu trong năm 2015 - 2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua các chỉ số đo lường: đánh giá kết quả dồn đổi trên quy mô 7.261,73 ha với sự tham gia của 31.055 hộ gia đình, làm giảm bình quân số thửa từ 2,87 thửa/hộ xuống còn 1,43 thửa/hộ, đồng thời nâng diện tích bình quân mỗi thửa thêm 817,83 m²/thửa, tạo nền tảng vững chắc để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hàng hóa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tích tụ và tập trung đất đai, lý thuyết kinh tế quy mô trong sản xuất nông nghiệp, cùng khung đánh giá Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia. Về mặt học thuật, dồn điền đổi thửa được định nghĩa là quá trình tổ chức, sắp xếp và chuyển đổi các ô thửa nhỏ lẻ, phân tán thành những ô thửa có quy mô diện tích lớn hơn, liền khu liền khoảnh, kết hợp với việc tái cấu trúc mạng lưới giao thông nội đồng và hệ thống thủy lợi nhằm tối ưu hóa năng lực sản xuất của hộ nông dân.

Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận khái niệm cánh đồng mẫu lớn, cơ giới hóa đồng bộ và hiệu quả sử dụng đất toàn diện trên ba phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm quốc tế sâu sắc từ các quốc gia đi trước: tại Nhật Bản, chính sách nông nghiệp năm 1961 đã giúp chuyển đổi khoảng 2,0 triệu ha đất lúa, giảm số thửa bình quân từ 3,4 xuống 1,8 thửa/hộ, góp phần tăng năng suất lúa từ 3.000 kg/ha năm 1960 lên 6.000 kg/ha năm 1992; tại Đài Loan, việc công bố Luật Phát triển nông nghiệp năm 1983 đã hỗ trợ trên 75% số trang trại mở rộng quy mô thông qua phương thức sản xuất ủy thác; hay tại Pháp, quy mô trang trại đã tăng mạnh từ 14 ha/hộ năm 1955 lên 35 ha/hộ năm 1993. Các kinh nghiệm này khẳng định việc sắp xếp lại ruộng đất là quy luật tất yếu để giải phóng sức sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2011 - 2016. Dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản pháp lý như Luật Đất đai, Công văn 230/UBND-VP3 của UBND tỉnh Ninh Bình, Kế hoạch 61/KH-UBND của UBND huyện Kim Sơn, số liệu thống kê đất đai từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kim Sơn.

Để thu thập dữ liệu sơ cấp, phương pháp chọn điểm và điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi được thực hiện trên cỡ mẫu 60 hộ nông dân (tương ứng 60 phiếu điều tra hợp lệ). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng tại 2 xã điểm: xã Thượng Kiệm (30 hộ) đại diện cho vùng trung tâm huyện có điều kiện kinh tế phát triển và dân trí cao, xã Yên Lộc (30 hộ) đại diện cho khu vực xa trung tâm với trình độ canh tác trung bình. Cả hai xã đều là địa bàn điểm đạt chuẩn nông thôn mới, đảm bảo tính đại diện cao cho toàn huyện. Phương pháp phân tích tài chính và hạch toán kinh tế được lựa chọn nhằm xác định giá trị sản xuất thông qua công thức tổng sản lượng nhân đơn giá, chi phí trung gian và hiệu quả thu nhập trên một ngày công lao động. Toàn bộ số liệu được phân tổ, tổng hợp và xử lý định lượng bằng phần mềm chuyên dụng, kết hợp phương pháp so sánh đối chiếu trước và sau dồn đổi để kiểm định mức độ biến đổi của các chỉ tiêu kinh tế - xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Sơn đạt bước đột phá về tiến độ và quy mô đất đai. Tính đến thời điểm khảo sát, đã có 21/23 xã hoàn thành công tác dồn đổi với 31.055 hộ tham gia trên tổng diện tích 7.261,73 ha (chỉ còn 2 xã ven biển Kim Mỹ và Kim Hải đang tiếp tục thực hiện). Số thửa canh tác bình quân giảm sâu từ 2,87 thửa/hộ xuống 1,43 thửa/hộ (giảm 50,17%), trong khi diện tích bình quân một thửa tăng thêm 817,83 m²/thửa, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng ruộng đất manh mún dưới 300 m².

Thứ hai, việc tái cấu trúc đất đai đã tạo nguồn lực to lớn để phát triển hạ tầng nông thôn. Người dân toàn huyện đã tự nguyện hiến 284,32 ha đất nông nghiệp phục vụ mở rộng đường nội đồng và kênh mương, thực hiện đào đắp 929.187 m³ đất đá với tổng kinh phí đầu tư huy động đạt 50,35 tỷ đồng. Mạng lưới giao thông và thủy lợi nội đồng được kiên cố hóa, đảm bảo tỷ lệ tưới tiêu chủ động tăng rõ rệt trên toàn bộ các xứ đồng dồn đổi.

Thứ ba, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện giai đoạn 2011 - 2015 đạt bình quân 8,78%/năm. Cơ cấu sử dụng đất ghi nhận sự gia tăng của diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 3.900,1 ha (tăng 4,50% tỷ trọng so với năm 2011) và đất trồng cây lâu năm đạt 1.190,7 ha (tăng 1,97% tỷ trọng), trong khi đất trồng lúa giảm linh hoạt 3,13% xuống mức 8.302,2 ha để nhường chỗ cho các mô hình trang trại, cánh đồng mẫu lớn và hạ tầng công cộng.

Thứ tư, hiệu quả sản xuất và mức độ cơ giới hóa tăng trưởng vượt trội. Việc hình thành các ô thửa lớn giúp tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt gần 100% và khâu thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đạt trên 55%. Chi phí trung gian trên 1 ha canh tác lúa giảm đáng kể nhờ tiết kiệm giống, thuốc bảo vệ thực vật và ngày công lao động, giúp nâng cao thu nhập thuần của các hộ điều tra tại xã Thượng Kiệm và xã Yên Lộc, đồng thời giải phóng lượng lớn lao động chuyển dịch sang khu vực tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên thành công tại Kim Sơn là sự vào cuộc đồng bộ của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, cơ chế công khai minh bạch lấy phương châm người dân tự bàn bạc, tự chọn phương án chia đất và chính sách hỗ trợ xi măng kịp thời của chính quyền địa phương. Kết quả tại Kim Sơn hoàn toàn tương đồng với các mô hình tiêu biểu tại miền Bắc: tại tỉnh Thái Bình, 99,6% số xã hoàn thành dồn đổi giúp giảm 51,8% số thửa và hình thành 143 cánh đồng mẫu lớn trên 6.072 ha; tại tỉnh Nam Định, toàn tỉnh đã giảm số thửa bình quân từ 4,0 xuống 2,0 thửa/hộ và huy động được 2.809 ha đất hiến; tại thành phố Hà Nội, diện tích dồn đổi đạt 76.281,57 ha giúp giá trị sản xuất lúa chất lượng cao tăng từ 20 đến 25%.

Để trực quan hóa các phát hiện trên trong báo cáo khoa học, dữ liệu về sự sụt giảm số lượng ô thửa (từ 2,87 xuống 1,43 thửa/hộ) và mức tăng diện tích thửa (tăng 817,83 m²) nên được biểu diễn bằng biểu đồ hình cột so sánh kép trước và sau thực hiện. Đồng thời, cấu trúc chi phí sản xuất và giá trị thu nhập của 60 hộ khảo sát cần được hệ thống hóa qua bảng phân tích tài chính chi tiết để minh chứng rõ ràng cho mức độ tiết giảm chi phí đầu vào và gia tăng tỷ suất sinh lời trên 1 ha đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, khẩn trương hoàn thành công tác đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp sau dồn đổi. Ủy ban nhân dân huyện Kim Sơn cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cần chủ trì thực hiện nhằm mục tiêu cấp đổi giấy chứng nhận đạt 100% cho 31.055 hộ dân đã dồn điền đổi thửa, hoàn thành dứt điểm trong giai đoạn 2016 - 2018 nhằm đảm bảo tính pháp lý ổn định và tạo điều kiện cho nông dân thế chấp vay vốn phát triển kinh tế.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư kiên cố hóa hệ thống giao thông nội đồng và kênh mương thủy lợi. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND các xã tập trung nguồn vốn ngân sách và vốn đối ứng của nhân dân để cứng hóa trên 80% chiều dài các trục kênh mương chính và đường giao thông chính nội đồng, với lộ trình thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho máy móc quy mô lớn tiếp cận tận bờ thửa.

Thứ ba, nhân rộng các mô hình cánh đồng mẫu lớn và phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trạm Khuyến nông huyện và Ban quản trị các Hợp tác xã Nông nghiệp cần đóng vai trò nòng cốt để xây dựng tối thiểu từ 5 đến 10 mô hình liên kết sản xuất lúa chất lượng cao và nuôi trồng thủy sản tập trung với quy mô mỗi mô hình đạt trên 50 ha trong giai đoạn 2017 - 2020.

Thứ tư, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và ban hành cơ chế tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Kim Sơn cùng các doanh nghiệp chế biến nông sản cần triển khai gói tín dụng hỗ trợ lãi suất nhằm nâng tỷ lệ diện tích nông sản được bao tiêu theo hợp đồng đạt trên 40% hàng năm, giúp nông dân yên tâm đầu tư máy móc và mở rộng quy mô trang trại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường và nông nghiệp: Luận văn cung cấp số liệu thực chứng, quy trình triển khai 7.261,73 ha đất dồn đổi và phương thức tháo gỡ vướng mắc trong quản lý đất đai cấp cơ sở.

Thứ hai, lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới cấp xã: Tài liệu đóng vai trò cẩm nang kinh nghiệm thực tế về công tác vận động nhân dân hiến 284,32 ha đất, giải quyết công bằng các tranh chấp ranh giới và phương án thiết kế kênh mương nội đồng.

Thứ ba, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát 60 hộ ngẫu nhiên phân tầng, khung đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường và phương pháp phân tích tài chính nông hộ.

Thứ tư, Ban Giám đốc các Hợp tác xã Nông nghiệp và các doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp: Nghiên cứu gợi mở các giải pháp tổ chức sản xuất tập trung, phương án ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ và quy hoạch cánh đồng lớn sau khi diện tích thửa bình quân đã tăng thêm 817,83 m².

Câu hỏi thường gặp

Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Sơn đã làm thay đổi số lượng ô thửa của nông hộ như thế nào?
Sau khi hoàn thành dồn đổi tại 21/23 xã, số thửa canh tác bình quân của mỗi hộ nông dân đã giảm từ 2,87 thửa xuống còn 1,43 thửa/hộ. Đồng thời, diện tích trung bình của mỗi ô thửa tăng thêm 817,83 m², loại bỏ hoàn toàn các thửa ruộng nhỏ lẻ dưới 300 m² và tạo điều kiện lý tưởng để đưa máy cày, máy gặt đập liên hợp vào phục vụ sản xuất.

Người dân huyện Kim Sơn đã đóng góp những nguồn lực cụ thể nào trong quá trình chỉnh trang đồng ruộng?
Các nông hộ trên địa bàn huyện đã tự nguyện hiến 284,32 ha đất nông nghiệp phục vụ xây dựng hạ tầng chung. Bên cạnh đó, người dân đã đóng góp ngày công để đào đắp 929.187 m³ đất kênh mương thủy lợi và huy động tổng kinh phí đầu tư đạt 50,35 tỷ đồng, góp phần hoàn thành tiêu chí giao thông và thủy lợi trong chương trình nông thôn mới.

Quy mô và phương pháp khảo sát thực địa của luận văn được tiến hành tại những địa bàn nào?
Nghiên cứu tiến hành điều tra bảng hỏi trực tiếp trên 60 hộ nông dân được lựa chọn ngẫu nhiên phân tầng tại hai xã điểm đạt chuẩn nông thôn mới: 30 hộ tại xã Thượng Kiệm (đại diện cho vùng trung tâm phát triển) và 30 hộ tại xã Yên Lộc (đại diện cho khu vực xa trung tâm), đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan cao cho dữ liệu sơ cấp.

Dồn điền đổi thửa đã tác động như thế nào đến sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại huyện?
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất nông nghiệp đạt 13.972,8 ha. Quá trình dồn đổi thúc đẩy cơ cấu sử dụng đất chuyển biến rõ nét: diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 3.900,1 ha (tăng 4,50% tỷ trọng), đất cây lâu năm đạt 1.190,7 ha (tăng 1,97% tỷ trọng), trong khi đất trồng lúa giảm linh hoạt 3,13% để hình thành các vùng chuyên canh năng suất cao.

Đâu là những hạn chế chính còn tồn tại sau quá trình dồn điền đổi thửa được luận văn chỉ ra?
Nghiên cứu chỉ ra ba tồn tại lớn: tiến độ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới sau dồn đổi còn chậm, tỷ lệ kiên cố hóa bằng bê tông trên một số tuyến kênh mương nội đồng chưa đồng đều, và mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp tiêu thụ với nông dân trên các cánh đồng lớn vẫn còn hạn chế.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Sơn với quy mô 7.261,73 ha tại 21/23 xã, giảm số thửa bình quân từ 2,87 xuống 1,43 thửa/hộ và tăng diện tích bình quân thửa thêm 817,83 m².
  • Đóng góp to lớn của nhân dân trong việc hiến 284,32 ha đất và đào đắp 929.187 m³ kênh mương với tổng kinh phí 50,35 tỷ đồng đã tạo bước ngoặt hoàn thiện hạ tầng kinh tế nông thôn.
  • Nghiên cứu khẳng định dồn điền đổi thửa là đòn bẩy trực tiếp thúc đẩy giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Kim Sơn tăng trưởng bình quân 8,78%/năm giai đoạn 2011 - 2015.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ 4 nhóm (pháp lý đất đai, hạ tầng thủy lợi, cánh đồng mẫu lớn, liên kết tín dụng) với lộ trình thực hiện cụ thể từ năm 2016 đến năm 2020.
  • Các cơ quan quản lý và địa phương cần khẩn trương đẩy nhanh tiến độ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, đồng thời tăng cường hợp tác doanh nghiệp - nông dân để tối ưu hóa giá trị kinh tế trên quỹ đất đã được tập trung hóa.