ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm âm đạo là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất khiến phụ nữ phải đi khám phụ khoa. Viêm nhiễm đường sinh dục là nguyên nhân gây nhiều rối loạn ảnh hưởng đến sức khoẻ , đời sống, khả năng lao động và đặc biệt là sức khoẻ sinh sản. Nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể gây ra những hậu quả nặng nề như : viêm tiểu khung , chửa ngoài tử cung , vô sinh , ung thư cổ tử cung , nguy cơ lây truyền HIV , HPV. Ở phụ nữ có viêm âm đạo , cổ tử cung (CTC) có thể gây ra hậu quả sảy thai , đẻ non , thai lưu , ối vỡ non, nhiễm khuẩn mẹ, nhiễm khuẩn sơ sinh và thậm chí dị tật bẩm sinh [3].
Ước t nh, khoảng 75% phụ nữ bị viêm âm hộ - âm đạo do nấm t nhất một lần trong đời [1]. Khoảng 45% phụ nữ bị mắc từ 2 lần trở lên [2]. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm Trichomonas ở âm đạo là 1,4% [3]. Ở Mỹ, hàng năm có 3 triệu trường hợp viêm âm đạo do vi khuẩn có triệu chứng và thêm 3 triệu trường hợp viêm âm đạo do vi khuẩn không triệu chứng, tỷ lệ này chiếm 40- 50% số người có nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục [4].
Điều trị Viêm âm đạo nói chung trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng được các bác sĩ sản phụ khoa rất quan tâm, đặc biệt áp dụng phương pháp điều trị kết hợp Y học hiện đại và Y học cổ truyền hiện nay đem lại kết quả khả quan cho người bệnh Viêm âm đạo. Theo Y học cổ truyền, chứng trạng viêm nhiễm ở bộ phận sinh dục nữ được gọi là Đới hạ. Đa số các trường hợp viêm âm đạo sẽ có tình trạng huyết trắng gia tăng, có mùi và màu bất thường, gây khó chịu (ngứa, rát, nóng bỏng); Để giảm khó chịu, có thể áp một miếng gạc lạnh, như khăn rửa mặt vào vùng âm hộ, dùng các loại thuốc đặt âm đạo có k m hay không k m thuốc uống để điều trị. Tuy nhiên dùng thuốc đặt âm đạo đơn thuần tỷ lệ tái phát nhanh trong thời gian ngắn, trong khi nhiều bệnh nhân Viêm âm đạo lại 2 thấy hài lòng về kết quả điều trị bằng phương pháp điều trị bằng thuốc Y học hiện đại kết hợp sử dụng nước thuốc Y học cổ truyền tại khoa Phụ sản- Bệnh viện Tuệ Tĩnh.
Tại đây, bệnh nhân Viêm âm đạo có mong muốn và nguyện vọng được điều trị bằng phương pháp trên với số lượng không nhỏ, Đó là nguồn động viên lớn và cũng là thách thức đối với khoa Phụ sản, Bệnh viện Tuệ Tĩnh, mặc dù đã nhiều năm sử dụng thuốc đặt phụ khoa kết hợp nước sắc Hoàng bá và Xà Sàng Tử điều trị Viêm m đạo cho kết quả khả thi hơn phương pháp đặt thuốc phụ khoa đơn thuần nhưng đến nay chưa có nghiên cứu về hiệu quả điều trị kết hợp Y học hiện đại và nước thuốc Y học cổ truyền trong điều trị Viêm âm đạo. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài “ Đánh giá hiệu quả điều trị viêm âm đạo bằng phương pháp kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại tại bệnh viện Tuệ Tĩnh.” với 2 mục tiêu: 1. Đánh giá thực trạng người bệnh viêm âm đạo do nấm và vi khuẩn điều trị tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2019-2020 2.Đánh giá hiệu quả điều trị kết hợp thuốc rửa y học cổ truyền và thuốc đặt y học hiện đại bệnh viêm âm đạo tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
VIÊM M ĐẠO THEO QUAN ĐIỂM Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Cấu tạo giải ph u âm đạo và cổ tử cung m đạo có cấu trúc là ống cơ - sợi, lót bởi lớp niêm mạc là biểu mô lát tầng không sừng hóa, là phần tiếp nối từ cổ tử cung đến âm hộ, tạo sự thông suốt liên tục của đường sinh dục. Các tế bào bề mặt của biểu mô có chứa nhiều glycogen và chịu ảnh hưởng tình trạng nội tiết sinh dục. Trong âm đạo, không có cấu trúc tuyến, tuy nhiên có một số tuyến ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của âm đạo như tuyến cổ tử cung, tuyên Bartholin, tuyến Skene , tuyến mồ hôi ở vùng âm hộ.
Cổ tử cung hình nón cụt, có hai phần được cấu tạo bởi âm đạo bám vào cổ tử cung theo một đường vòng chếch từ 1/3 dưới ở ph a trước, 2/3 trên ở ph a sau. Phần dưới nằm trong âm đạo gọi là mõm m gồm hai môi cổ tử cung. Ống cổ tử cung có hình trụ bình thường có k ch thước dài 3cm x 2cm (ở người chưa đẻ) và dài 3cm x 3cm ở người con rạ. Lúc chưa đẻ, cổ tử cung trơn láng, trơn đều, mật độ chắc, mặt ngoài cổ tử cung trơn.
Ở tuổi dậy thì và hoạt động sinh dục, chiều dài cổ tử cung chiếm 1/3 so với thân tử cung. Sau khi đẻ, cổ tử cung rộng ra theo chiều ngang trở nên dẹt lại, mật độ mềm hơn và không trơn đều như trước khi đẻ. Lỗ ngoài cổ tử cung được phủ bởi biểu mô vảy không sừng hóa, có bề dày khoảng 5mm. Ống cổ tử cung được giới hạn bởi lỗ trong (nơi tiếp giáp giữa ống cổ tử cung và thân tử cung) và lỗ ngoài cổ tử cung.
Chất nhầy cổ tử cung có tác dụng bảo vệ, chống vi khuẩn xâm nhập vào buồng cổ tử cung và góp phần bôi trơn âm đạo trong hoạt động tình dục. Ống cổ tử cung được phủ bởi một lớp biểu mô trụ có tác dụng chế nhầy. Cấu tạo giải ph u tử cung, cổ tử cung và âm đạo [67]. Độ pH âm đạo Môi trường âm đạo bình thường nghiêng về acid (có độ pH từ 3,8 đến 4,6).
Nồng độ glycogen dự trữ trong tế bào chịu ảnh hưởng của estrogen. Độ pH âm đạo là do glycogen t ch lũy trong tế bào biểu mô chuyển thành acid lactic khi có trực khuẩn Doderlin. Dịch âm đạo - Dịch tiết âm đạo có thể tăng ở giữa chu kỳ kinh nguyệt do chất nhầy cổ tử cung gia tăng. Dịch âm đạo (thường gọi là kh hư) bao gồm các tế bào âm đạo bong ra, chất tiết từ tuyến Bartholin, tuyến Skene, dịch nhầy ở cổ tử cung, dịch tiết ra từ buồng tử cung và dịch thấm từ thành âm đạo (tiết ra từ các tổ chức và mao mạch của âm đạo đã trưởng thành).
- Các thành phần của dịch tiết âm đạo bình thường bao gồm nước, điện giải, các mảnh tế bào chủ yếu là tế bào biểu mô âm đạo bị bong ra, quần thể vi sinh vật không gây bệnh, acid béo hữu cơ, protein và các hợp chất carbohydrate. 5 - Dịch âm đạo bình thường, trắng trong, hơi quánh, thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, vào thời kỳ phóng noãn, dịch âm đạo nhiều và loãng là dịch sinh lý. Dịch tiết sinh lý âm đạo có đặc điểm là không bao giờ gây ra các triệu chứng cơ năng như: k ch th ch, ngứa hay đau khi giao hợp, không có mùi, không chứa bạch cầu đa nhân và không cần điều trị. Khi bị nhiễm khuẩn, dịch âm đạo thay đổi, xét nghiệm dịch âm đạo thấy các vi sinh vật gây bệnh khác nhau.
Tính chất sinh hóa của dịch âm đạo Dịch âm đạo chứa các phân tử carbonhydrat (glucose, maltose), protein, urê, các ion K, Na, Cl, acid amin, acid béo. Hệ vi sinh bình thường trong âm đạo Ở phụ nữ bình thường, hệ vi sinh vật có trong âm đạo ở trạng thái cân bằng động. Mất sự cân bằng này có thể dẫn tới tình trạng viêm nhiễm âm đạo [8]. Thường dịch âm đạo chứa 108 đến 1012 vi khuẩn/ml, gồm trực khuẩn Doderlin, các cầu khuẩn, các trực khuẩn không gây bệnh.
Trong đó, trực khuẩn Doderlin chiếm khoảng 50 - 88% [7]. Các tác nhân cơ hội sẽ gây bệnh khi chúng hiện diện với số lượng cao và hoặc khi di chuyển từ nơi khác vào âm đạo [8], [6]. Các vi sinh vật gây bệnh khi xâm nhập sẽ gây ra các tổn thương. Để tự bảo vệ, ngoài sự bền vững của biểu mô vẩy, còn có một số cơ chế khác: + pH âm đạo toan (< 4,5) là môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Để có được môi trường âm đạo toan cần đến sự có mặt của trực khuẩn Doderlin có sẵn trong âm đạo. Các vi khuẩn này chuyển glycogen có trong tế bào biểu mô âm đạo thành acid lactic. + Chất nhầy cổ tử cung cũng có các enzyme kháng vi khuẩn như lysozym, peroxidase, lactoferin. + Niêm mạc âm đạo có dịch thấm từ mạng tĩnh mạch, bạch mạch, dịch 6 này có enzym kháng khuẩn.
Căn nguyên vi sinh v t gây iêm âm đạo Các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ sinh sản cho cả hai giới và trở thành gánh nặng cho ngành y tế và cho cộng đồng. Các tác nhân gây bệnh Viêm âm đạo có thể là vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng. Một vài tác nhân gây bệnh thường gặp là: 1161 i m m o do n m Candida Hầu hết nấm có thể chịu được nhiệt độ và có thể tồn tại dưới ảnh hưởng của hoạt động oxy hoá khử, phân giải của đại thực bào, do đó nấm có khả năng chịu đựng được sức đề kháng cơ thể vật chủ. Tỷ lệ nhiễm nấm gần đây tăng lên nhanh chóng do sự gia tăng tỷ lệ các đối tượng cảm thụ bệnh, như bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch HIV/AIDS, đái tháo đường, bệnh nhân điều trị các thuốc ức chế miễn dịch, điều trị kháng sinh phổ rộng, corticoid kéo dài, cấy ghép tạng [13].
Nấm Candida tồn tại trong tự nhiên và mọi người đều tiếp xúc với chúng. Khả năng gây bệnh của nấm phụ thuộc vào số lượng bào tử nấm bị nhiễm và vào sức đề kháng của cơ thể vật chủ [9]. Candida là một trong 66 chi của nấm men với 155 loài, song chỉ có C. albicans được xem là thường xuyên gây bệnh, đặc biệt là gây viêm âm đạo.
Candida sinh sản bằng cách nẩy chồi. Bình thường, chúng có mặt trên da và niêm mạc gặp khi sức đề kháng giảm hay thay đổi nội tiết, thiếu vitamin nhóm B hoặc do dùng kháng sinh kéo dài, phụ nữ có thai Candida phát triển mạnh hơn. Tế bào nấm hình tròn hay hình bầu dục, k ch thước 2µm x 4µm, có thể là cả sợi nấm (là đoạn thẳng có chiều dài 3-5µm). Triệu chứng thường gặp là ngứa rát âm đạo, khí hư màu kem trắng, bột, khó tan trong nước muối sinh lý.