CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THEO MÔ HÌNH KIRKPATRICK 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực và nguồn nhân lực trong tổ chức Nhân lực Nhân lực là một từ ghép tùy từng cách tiếp cận mà ta có những định nghĩa riêng về nhân lực. Nhân trong từ Hán Việt có nghĩa là người còn một số nghĩa khác trong Hán Việt như lý do, đạo lý làm người,yêu người không lợi riêng mình, Chỉ hai sự kiện, hành động đi liền nhau, có liên quan mật thiết với nhau.
Lực trong vật lý học là bất kỳ ảnh hưởng nào làm một vật thể chịu sự thay đổi, hoặc là ảnh hưởng đến chuyển động, hướng của nó hay cấu trúc hình học của nó. Nói cách khác, lực là nguyên nhân làm cho một vật có khối lượng thay đổi vận tốc của nó (bao gồm chuyển động từ trạng thái nghỉ), tới chuyển động có gia tốc, hay làm biến dạng vật thể, hoặc cả hai. Lực cũng có thể được miêu tả bằng những khái niệm trực giác như sự đẩy hoặc kéo. Lực là đại lượng vectơ có độ lớn và hướng.
Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực trường đại học Kinh Tế Quốc Dân của Trần Xuân Cầu chủ biên “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động [12, tr. Theo Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương thì “nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham 7 gia lao động của từng cá nhân cụ thể” [3, tr.Trên phạm vi quốc gia, thì nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Theo Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh (2008) thì “Nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người”; Nhân lực theo nghĩa hẹp (hay nhân lực xã hội và nhân lực doanh nghiệp) được hiểu như sau: “Nhân lực xã hội (còn gọi là nguồn lao động xã hội) là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động” và “nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp” [6, tr.
Đứng ở mỗi khía cạnh nhân lực lại có một ý nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung nhân lực có thể hiểu là nguồn lực trong mỗi con người, bao gồm nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng cũng như sức khỏe, chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của lực. trình độ, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ, ý thức. thể lực và trí lực được thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc, năng suất, hiệu quả làm việc của con người. Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển.
Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. Trong giáo trình quản trị nhân lực I thì “Nguồn nhân lực của một tổ chức là nguồn lực của toàn cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục 8 tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên” [5, tr. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.
Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên, năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [12. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [12.
Qua nhiều nhận định, quan điểm của các tác giả có thể thấy nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ tất cả các nguồn lực của con người trí lực, sức lực, tâm lực. được huy động vào quá trình lao động. Đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức Trong thời kỳ hội nhập và cuộc cách mạng 4.0 sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những công nghệ mới nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm muốn làm được điều đó doanh nghiệp phải có nguồn nhân lực chất lượng cao nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đào tạo nguồn nhân lực là một trong các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức.
Đào tạo giúp người lao động tăng kiến thức, kỹ năng, giúp thay đổi các quan điểm, hành vi thái độ, nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đào tạo nhân lực giúp tổ chức cải thiện 9 và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm tăng năng suất và hiệu quả lao động, nâng cao vị thế, sức mạnh của doanh nghiệp so với các đối thủ cùng ngành. Theo giáo trình quản trị nhân lực tập II của Lê Thanh Hà chủ biên (2009) thì “đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình” [5, tr. Nhận định này cho rằng việc đào tạo trong doanh nghiệp, tổ chức sẽ giúp người lao động hoàn thành tốt những công việc được giao ở thời điểm hiện tại.
Quan điểm của tác giả Nguyễn Vân Điềm và tác giả Nguyễn Ngọc Quân trong giáo trình Quản Trị Nhân Lực xuất bản năm 2004 cho rằng “ Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ” [8, tr. Nhận định này cho rằng đào tạo cung cấp cho họ các kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp người lao động để họ có thể thực hiện tốt nhất chức năng nhiệm vụ. Trong công việc của mình. Ngoài những kiến thức họ đã có sẵn, đào tạo trong tổ chức là bổ sung những gì họ còn thiếu và yếu nhằm hoàn chỉnh kiến thức kỹ năng để họ đáp ứng được tốt yêu cầu của công việc.
Một sự phát triển lớn của học thuyết đào tạo là đã phân biệt được hai loại đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên biệt. Đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên biệt được phân biệt bởi hai đặc điểm nổi bật: đối tượng hưởng lợi của đào tạo và người chịu chi phí đào tạo. Đào tạo cơ bản và chuyên biệt đều nhằm mục đích tăng năng suất của NLĐ trong tương lai. Tuy nhiên với đào tạo cơ bản, việc tăng năng suất đó không chỉ cho DN hoặc đơn vị mà NLĐ đó đang làm việc mà còn cho các công ty khác trong thị trường lao động, nghĩa là nếu NLĐ nghỉ việc họ có thể sử dụng những kiến thức, kỹ năng được đào tạo để làm việc tại một nơi khác.
10 Còn đối với đào tạo chuyên biệt được người sử dụng lao động trực tiếp tổ chức dựa trên nhu cầu thực tế của DN/tổ chức, nó được sử dụng riêng cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh của DN mà có thể khi NLĐ nghỉ việc, sẽ không thể sử dụng được những kiến thức, kỹ năng đó cho một DN khác. Theo giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, Tái bản lần thứ nhất của Trường Đại học Kinh tế quốc dân - Trần Xuân Cầu (2014) định nghĩa “Đào tạo nguồn nhân lực (gọi tắt là đào tạo) là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. Đào tạo gắn liền với quá trình học tập và giảng dạy. Nếu quá trình đào tạo không có giảng dạy thì gọi đó là quá trình tự đào tạo do người học tự học tập nâng cao trình độ của mình thông qua các tài liệu sách báo và thực tế hoạt động” Qua nhiều nhận định về đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức.
Đào tạo nguồn nhân lực có thể được hiểu là hoạt động truyền đạt của giáo viên là lĩnh hội của học viên nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ. để phục vụ cho mục đích của tổ chức. Hiệu quả và đánh giá hiệu quả đào tạo Theo cuốn ( Kinh tế thương mại dịch vụ - Nhà xuất bản Thống kê 1998) có đưa ra định nghĩa "Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí". Quan điểm này đã xác định hiệu quả trên cơ sở so sánh tương đối giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có được kết quả đó.
Nhưng xét trên quan niệm của triết học Mác-Lênin thì sự vật hiện tượng đều có quan hệ ràng buộc có tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một các riêng lẻ. Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố có sẵn. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi. Hạn chế của quan điểm này là nó chỉ xem xét hiệu quả trên cơ sở so sánh 11 phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, và nó không xem xét đến phần chi phí và phần kết quả ban đầu.