Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Phát triển kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã (HTX) là chủ trương xuyên suốt trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhằm thúc đẩy khu vực này chuyển dịch từ mô hình kiểu cũ sang mô hình kiểu mới tự chủ và thích ứng với cơ chế thị trường, hệ thống văn bản pháp lý và chính sách hỗ trợ đã liên tục được ban hành, tiêu biểu là Nghị định số 88/2005/NĐ-CP và Luật Hợp tác xã năm 2012. Thủ đô Hà Nội có 88,3% diện tích tự nhiên và 64% dân số thuộc khu vực nông thôn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, việc đưa các chính sách ưu đãi vào thực tiễn còn bộc lộ nhiều hạn chế: nguồn lực phân tán, chỉ đạo thiếu kiên quyết, các quy định hành chính phức tạp khiến các HTX khó tiếp cận nguồn hỗ trợ.
Xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, là địa bàn ven đô thuộc vùng châu thổ sông Hồng và sông Đuống, đang trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ. Mặc dù mô hình HTX tại đây đã hình thành lâu đời, hoạt động thực tế vẫn gặp nhiều rào cản: nhận thức của xã viên chưa đầy đủ (vẫn xem HTX như một tổ chức bao cấp của Nhà nước), trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, các dịch vụ cung ứng chưa thực sự đa dạng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ mới ở mức trung bình. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vàng Thị Hồng (chuyên ngành Kinh tế, Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2015) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX trên địa bàn xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX ở xã Cổ Bi.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX tại xã Cổ Bi đến năm 2020.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tác giả đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:
- Việc thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn xã Cổ Bi đang được triển khai như thế nào? Những khó khăn, vướng mắc nào đang gặp phải?
- Những yếu tố nào đang ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn xã Cổ Bi?
- Giải pháp nào để góp phần thực hiện tốt chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn xã Cổ Bi?
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận, thực tiễn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX. Chủ thể nghiên cứu bao gồm cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý HTX, cán bộ quản lý cấp xã, cán bộ cấp huyện, cùng các tổ chức và doanh nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. Về phạm vi nghiên cứu, không gian khảo sát tập trung tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Dữ liệu thứ cấp và sơ cấp phản ánh giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014; thời gian thực hiện nghiên cứu thực địa diễn ra từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận và pháp lý, nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuẩn mực về hợp tác xã của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) và Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13. Khóa luận phân định rõ khái niệm HTX dịch vụ nông nghiệp (HTXDVNN) và HTX dịch vụ tổng hợp (HTXDVTH) - loại hình tổ chức đảm nhiệm nhiều khâu phục vụ sản xuất từ đầu vào đến tiêu thụ nông sản. Khung chính sách hỗ trợ được đối chiếu trực tiếp với các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước:
- Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể;
- Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 và Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã (đặc biệt là Điều 24 và Điều 25 về chính sách hỗ trợ đào tạo, xúc tiến thương mại, khoa học công nghệ, tiếp cận vốn, đầu tư kết cấu hạ tầng, đất đai và thuế);
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Điều 53 về giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX);
- Nghị định số 106/2004/NĐ-CP, Nghị định số 20/2005/NĐ-CP về tín dụng đầu tư phát triển và Quyết định số 2261/QĐ-TTg phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015 - 2020.
Về quy trình thực thi chính sách, tác giả vận dụng khung lý thuyết của Vũ Cao Đàm (2011), xem thực thi chính sách là quy trình gồm 7 bước liên kết chặt chẽ: chuẩn bị triển khai; phổ biến, tuyên truyền chính sách; phân công phối hợp thực hiện; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc; và đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm.
Về phương pháp thu thập dữ liệu, đề tài kết hợp giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Cổ Bi, số liệu thống kê đất đai năm 2014, báo cáo tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của HTX Cổ Bi giai đoạn 2011 - 2014.
- Dữ liệu sơ cấp: Chọn điểm nghiên cứu và tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi đối với mẫu gồm 45 hộ xã viên, 4 cán bộ chuyên môn và quản lý HTX, cùng 3 cán bộ UBND xã Cổ Bi. Đồng thời, đề tài áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân/nhóm am hiểu chủ chốt (KIP - Key Informant Panel).
Các thông tin sau khi thu thập được xử lý, tổng hợp bằng phương pháp thống kê mô tả (tính tần suất, tỷ lệ phần trăm, số bình quân) và phương pháp so sánh đối chiếu số liệu qua các năm để rút ra các kết luận thực tiễn.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Bố cục của khóa luận được tổ chức thành 5 phần chuyên môn với các nội dung chi tiết:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của mô hình kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả nêu bật sự chuyển dịch chính sách hỗ trợ HTX qua các thời kỳ, bối cảnh thực tiễn của nông thôn Hà Nội, và những bất cập đặc thù tại xã ven đô Cổ Bi (quá trình đô thị hóa làm thu hẹp đất nông nghiệp, nhận thức người dân về HTX chưa đúng). Trên cơ sở đó, tác giả xác định mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, chủ thể và phạm vi nghiên cứu thời gian, không gian.
Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm về HTX, HTXDVTH, bản chất của chính sách công và chính sách hỗ trợ phát triển HTX (đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc khắc phục thất bại thị trường và cung cấp hàng hóa công theo nghiên cứu của Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, Nguyễn Hải Hoàng). Phần này chi tiết hóa khung 7 bước thực thi chính sách và các nhân tố ảnh hưởng theo Vũ Cao Đàm (2011). Bên cạnh lý luận, tác giả tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về phát triển HTX:
- Nhật Bản: Mô hình Liên hiệp HTX nông nghiệp quốc gia (ZEN-NOH thành lập năm 1972) với hệ thống 3 cấp, kiểm soát trên 90% sản lượng gạo và cung ứng vật tư nông nghiệp;
- Hàn Quốc: Chính sách miễn thuế địa phương, cho vay ưu đãi qua Ngân hàng nông nghiệp với lãi suất 2-3% (thấp hơn nhiều so với mức thị trường 10%), hỗ trợ 30-40% chi phí cơ sở hạ tầng nông thôn và hỗ trợ tới 90% kinh phí đào tạo cán bộ;
- Indonesia và Thái Lan: Hệ thống quản lý nhà nước thông qua Cục phát triển HTX, chính sách miễn thuế và bảo trợ đầu ra nông sản.
Đồng thời, tác giả phân tích hai bài học kinh nghiệm điển hình tại Việt Nam: HTXDVNN Minh Tân (Vụ Bản, Nam Định) với việc huy động 2,95 tỷ đồng kiên cố hóa 10,7 km kênh mương và liên kết sản xuất 286 tấn lúa giống; và HTX nông nghiệp dịch vụ Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Nội) với doanh thu 20,7 tỷ đồng (năm 2011) nhờ năng động phát triển thương hiệu miến dong, tranh thêu và xúc tiến thương mại.
Phần III: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Phần này làm rõ điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Cổ Bi năm 2014:
- Địa bàn có tổng diện tích tự nhiên 502,9108 ha; trong đó đất nông nghiệp là 252,6607 ha (chiếm 50,23%), đất phi nông nghiệp là 240,2501 ha (chiếm 44,82%), đất chưa sử dụng là 10 ha (chiếm 1,54%).
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành do xã quản lý đạt 11,77%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh: công nghiệp - xây dựng chiếm 54,16%; thương mại - dịch vụ chiếm 28%; nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ còn chiếm 17,84% với giá trị sản xuất đạt gần 20 tỷ đồng.
- Hạ tầng kỹ thuật phụ thuộc vào sông Đuống; hệ thống thủy nông phục vụ tiêu thoát nước còn nhiều rãnh hở, điện nông thôn bán kính phục vụ xa dẫn đến tình trạng thiếu hụt công suất vào giờ cao điểm.
Phần này cũng mô tả hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp điều tra 45 hộ xã viên cùng 7 cán bộ địa phương bằng bảng hỏi và phỏng vấn KIP.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh thực trạng tổ chức và thực thi chính sách tại địa phương:
- Về tổ chức HTXDVTH Cổ Bi: Đến hết năm 2014, HTX có 800 xã viên. 100% cán bộ quản lý đạt trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Tổng tài sản tính đến 31/12/2014 đạt 3.326,7 triệu đồng. HTX cung cấp các dịch vụ cơ bản: tưới tiêu, bảo vệ đồng ruộng, bảo vệ thực vật, cung cấp giống, làm đất, vật tư nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật và dịch vụ điện. Tuy nhiên, mức độ đánh giá của xã viên đối với chất lượng dịch vụ chỉ đạt mức trung bình, hiệu quả kinh tế dịch vụ chưa cao.
- Đánh giá thực thi từng chính sách hỗ trợ:
- Chuẩn bị và tổ chức: Thành lập Ban chỉ đạo triển khai chính sách cấp xã; tổ chức thành lập mới được 1 HTX là HTX Giống cây trồng Cổ Bi (do ông Bùi Văn Dầu - Chủ tịch HĐND xã làm chủ nhiệm).
- Tuyên truyền: Kênh thông tin chủ yếu là qua chủ nhiệm HTX (chiếm 66,7% số người được hỏi).
- Đào tạo: Năm 2014 có 4 cán bộ xã và HTX được tham gia tập huấn chính sách hỗ trợ HTX (2 cán bộ quản lý HTX, 1 cán bộ chuyên môn, 1 cán bộ tư vấn).
- Nguồn vốn hỗ trợ: Kinh phí ngân sách đầu tư cho hoạt động hỗ trợ phát triển HTX trên địa bàn xã năm 2014 là 420 triệu đồng - mức kinh phí còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
- Chính sách thuế: HTXDVTH Cổ Bi được hưởng đầy đủ các ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dịch vụ phục vụ thành viên.
- Chính sách đất đai: HTX được UBND xã cấp 240 m2 đất xây dựng trụ sở chính và 280 m2 đất xây cửa hàng vật tư nông nghiệp, không phải chịu thuế đất. Hạn chế lớn là toàn bộ diện tích đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), khiến HTX không có tài sản hợp pháp để thế chấp.
- Chính sách tín dụng: Không triển khai được trên thực tế. Cả HTXDVTH Cổ Bi và các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm đều chưa tiếp cận được vốn vay ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển hay ngân hàng do vướng mắc về thủ tục lập phương án kinh doanh khả thi và thiếu tài sản thế chấp.
- Xúc tiến thương mại: Xã Cổ Bi đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội cấp chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất quả an toàn, song khâu tiêu thụ hoàn toàn do người dân tự xoay xở, chưa nhận được sự hỗ trợ xúc tiến hay kết nối thị trường từ Nhà nước.
- Nhóm yếu tố ảnh hưởng: Năng lực chuyên môn của cán bộ HTX; nhận thức của cán bộ chính quyền cấp xã; mức độ phối hợp liên ngành; hiện trạng hạ tầng cơ sở và hiệu quả công tác tuyên truyền.
- Hệ thống giải pháp đề xuất đến năm 2020: Đào tạo nâng cao nghiệp vụ quản lý cho cán bộ HTX và xã; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành; tăng mức vốn ngân sách hỗ trợ hạ tầng; tăng cường kiểm tra, giám sát thực thi; đổi mới nội dung và kênh truyền thông chính sách.
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tóm tắt các kết luận chính và đưa ra kiến nghị phân cấp cho 4 nhóm chủ thể: cơ quan quản lý Nhà nước (hoàn thiện khung hướng dẫn, nới lỏng điều kiện vay vốn); chính quyền địa phương (hỗ trợ hoàn thiện thủ tục cấp sổ đỏ, quy hoạch mặt bằng); ban quản lý HTX (chủ động xây dựng phương án kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ); và người dân/xã viên (tích cực tham gia đóng góp ý kiến, thay đổi tư duy trông chờ bao cấp).
Kết quả nghiên cứu và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh bức tranh thực thi chính sách tại cơ sở thông qua số liệu định lượng và định tính cụ thể thu thập được tại xã Cổ Bi:
| Nhóm chính sách |
Hiện trạng thực hiện tại xã Cổ Bi (đến năm 2014) |
Hạn chế, vướng mắc phát hiện |
| Thành lập mới |
Thành lập được 01 HTX Giống cây trồng Cổ Bi hoạt động ổn định. |
Số lượng thành lập mới còn ít, chủ yếu mang tính thử nghiệm. |
| Đào tạo cán bộ |
100% cán bộ HTX có trình độ từ trung cấp trở lên; năm 2014 có 4 cán bộ tham gia lớp tập huấn chuyên sâu. |
Thời gian đào tạo ngắn ngày, kiến thức lập phương án sản xuất kinh doanh còn yếu. |
| Tài chính - Ngân sách |
Tổng nguồn kinh phí đầu tư hỗ trợ phát triển HTX năm 2014 đạt 420 triệu đồng. |
Kinh phí hạn hẹp so với nhu cầu mở rộng dịch vụ của HTX có 800 xã viên. |
| Thuế |
HTXDVTH Cổ Bi được miễn thuế thu nhập đối với dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất của xã viên. |
Đạt kết quả tốt, thực hiện đúng quy định pháp luật. |
| Đất đai |
Cấp 240 m2 đất xây trụ sở và 280 m2 đất làm cửa hàng vật tư, miễn tiền sử dụng đất. |
Chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không được hỗ trợ thuê thêm đất kinh doanh. |
| Tín dụng ưu đãi |
0% HTX nông nghiệp trên địa bàn xã (và toàn huyện) tiếp cận được vốn tín dụng ưu đãi. |
Vướng mắc điều kiện lập phương án kinh doanh khả thi và thiếu tài sản bảo đảm. |
| Xúc tiến thương mại |
Được cấp chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất quả an toàn. |
Chưa có chương trình hỗ trợ kết nối tiêu thụ, nông dân tự bán sản phẩm qua thương lái. |
| Công tác tuyên truyền |
66,7% xã viên nắm bắt thông tin chính sách qua chủ nhiệm HTX. |
Tuyên truyền một chiều, người dân chưa hiểu rõ Luật Hợp tác xã năm 2012. |
Khóa luận đóng góp về mặt thực tiễn bằng việc chỉ rõ "khoảng cách chính sách" (policy gap) giữa chủ trương hỗ trợ của Chính phủ (Nghị định 88/2005/NĐ-CP, Nghị định 193/2013/NĐ-CP) và khả năng hấp thụ thực tế tại cơ sở cấp xã ven đô. Tác giả chứng minh rằng chính sách thuế và cấp đất ban đầu là hai điểm sáng duy nhất, trong khi chính sách tín dụng và xúc tiến thương mại - hai đòn bẩy quan trọng nhất để HTX tồn tại trong cơ chế thị trường - hoàn toàn bị vô hiệu hóa bởi rào cản hành chính và thiếu tài sản thế chấp hợp pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực địa:
- Mẫu khảo sát sơ cấp dừng lại ở quy mô 45 hộ xã viên và 7 cán bộ quản lý trên một địa bàn hành chính duy nhất (xã Cổ Bi), do đó tính đại diện cho toàn bộ vùng nông thôn Hà Nội chưa cao.
- Phân tích chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh định tính, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ tác động biên của từng yếu tố chính sách đối với doanh thu hay lợi nhuận của HTX.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra so sánh giữa các xã ven đô có tốc độ đô thị hóa khác nhau, đồng thời theo dõi việc chuyển đổi toàn diện mô hình tổ chức của HTX Cổ Bi sau khi Luật Hợp tác xã 2012 có hiệu lực thi hành đầy đủ sau năm 2015.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý công và Chính sách công: Cung cấp một khung đánh giá quy trình thực thi chính sách 7 bước tại cấp cơ sở kèm bộ tiêu chí khảo sát thực tế.
- Cán bộ quản lý kinh tế tập thể tại cấp huyện và xã: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về những khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ vay vốn tín dụng, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp và bài học kinh nghiệm từ HTX Minh Tân và HTX Dương Liễu.
- Các nhà nghiên cứu về kinh tế hợp tác: Cung cấp nguồn số liệu cơ sở chi tiết về cơ cấu tài sản (3.326,7 triệu đồng), nhân sự và đánh giá dịch vụ của HTX xã Cổ Bi trong giai đoạn 2011 - 2014.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu việc thực thi chính sách hỗ trợ HTX tại địa bàn nào và thời gian thu thập dữ liệu ra sao?
Nghiên cứu được tiến hành tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Dữ liệu thứ cấp và tình hình thực thi chính sách được tổng hợp từ năm 2011 đến hết năm 2014, với thời gian triển khai điều tra thực địa từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2015.
2. HTXDVTH Cổ Bi có quy mô xã viên và năng lực tài sản như thế nào tính đến năm 2014?
Tính đến hết năm 2014, HTXDVTH Cổ Bi có 800 xã viên. Toàn bộ cán bộ quản lý đạt 100% trình độ từ trung cấp, cao đẳng đến đại học. Tổng tài sản của HTX tính đến ngày 31/12/2014 đạt khoảng 3.326,7 triệu đồng.
3. Chính sách hỗ trợ đất đai tại xã Cổ Bi đã đạt được kết quả gì và gặp phải rào cản nào?
UBND xã Cổ Bi đã bố trí giao 240 m2 đất xây dựng trụ sở chính và 280 m2 đất xây cửa hàng bán vật tư nông nghiệp phục vụ xã viên mà không phải nộp thuế đất. Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất là HTX chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và chưa được hỗ trợ thủ tục thuê đất mở rộng sản xuất kinh doanh.
4. Vì sao chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước không triển khai được tại HTX Cổ Bi?
Dù có chính sách ưu đãi theo các Nghị định của Chính phủ, HTXDVTH Cổ Bi (cũng như phần lớn HTX dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm) không thể tiếp cận được nguồn vốn vay do không đáp ứng được yêu cầu về phương án kinh doanh khả thi theo tiêu chuẩn ngân hàng và không có tài sản bảo đảm (đất đai chưa có sổ đỏ).
5. Trong năm 2014, xã Cổ Bi nhận được bao nhiêu kinh phí hỗ trợ HTX và có bao nhiêu cán bộ được tập huấn?
Năm 2014, tổng kinh phí đầu tư cho hoạt động hỗ trợ phát triển HTX trên địa bàn xã Cổ Bi là 420 triệu đồng. Có 4 cán bộ được cử tham gia lớp tập huấn về chính sách hỗ trợ HTX (bao gồm 2 cán bộ quản lý HTX, 1 cán bộ chuyên môn nghiệp vụ và 1 cán bộ tư vấn hỗ trợ HTX).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vàng Thị Hồng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện bức tranh thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX tại xã ven đô Cổ Bi giai đoạn 2011 - 2014. Kết quả nghiên cứu khẳng định địa phương đã thực hiện tốt chính sách ưu đãi thuế và giao đất xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu, song chính sách tín dụng ưu đãi và xúc tiến thương mại hoàn toàn chưa phát huy hiệu quả. Nghiên cứu đã đề xuất 5 nhóm giải pháp thiết thực gắn liền với nâng cao năng lực cán bộ, bố trí nguồn lực ngân sách và hoàn thiện cơ chế phối hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HTX nông nghiệp đến năm 2020.