Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Rối Loạn Trầm Cảm Ở Trẻ Em

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm ở trẻ em luận văn ths tâm lí học lâm sàng chuyên, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Tâm lý học lâm sàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2019

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

1.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1.6. Cấu trúc luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Một số nghiên cứu về trầm cảm

2.1.1. Các nghiên cứu của nước ngoài

2.1.2. Các nghiên cứu trong nước

2.2. Các lý thuyết tiếp cận về trầm cảm

2.2.1. Thuyết Phân tâm học về trầm cảm

2.2.2. Thuyết nhận thức về trầm cảm

2.2.3. Thuyết hành vi về trầm cảm

2.2.4. Sự tuyệt vọng tập nhiễm

2.3. Rối loạn trầm cảm và rối loạn trầm cảm ở trẻ em

2.3.1. Khái niệm trầm cảm và đặc điểm lâm sàng của trầm cảm

2.3.2. Các dấu hiệu, triệu chứng của trầm cảm

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Các phương pháp nghiên cứu

3.1.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.1.2. Phương pháp quan sát

3.1.3. Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng

3.2. Câu hỏi nghiên cứu

3.3. Đánh giá hiệu quả của việc can thiệp rối loạn trầm cảm ở trẻ em

3.4. Đạo đức trong thực hành ca lâm sàng

4. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ, CAN THIỆP MỘT CA LÂM SÀNG

4.1. THANH THIẾU NIÊN TRẦM CẢM

4.1.1. Mô tả trường hợp

4.1.2. Đánh giá, chẩn đoán

4.1.3. Định hình trường hợp

4.1.4. Lập kế hoạch can thiệp

4.1.5. Quy trình can thiệp trị liệu

4.1.6. Đánh giá hiệu quả can thiệp

4.1.6.1. Đánh giá về các hiệu quả đạt được
4.1.6.2. Đánh giá về hiệu quả của các liệu pháp với mục tiêu đầu ra
4.1.6.3. Đánh giá về những vấn đề chưa đạt hiệu quả trong quá trình can thiệp

4.1.7. Định hướng trị liệu tiếp theo cho thân chủ

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Rối Loạn Trầm Cảm Ở Trẻ Em

Rối loạn trầm cảm ở trẻ em đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội hiện đại. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ trẻ em mắc chứng rối loạn này ngày càng gia tăng. Việc đánh giá hiệu quả can thiệp là rất cần thiết để cải thiện tình trạng sức khỏe tâm lý cho trẻ. Các phương pháp can thiệp tâm lý hiện nay đã được áp dụng rộng rãi, nhưng hiệu quả thực tế vẫn cần được nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng.

1.1. Khái Niệm Rối Loạn Trầm Cảm Ở Trẻ Em

Rối loạn trầm cảm ở trẻ em được định nghĩa là trạng thái tâm lý tiêu cực kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng học tập và giao tiếp xã hội. Các triệu chứng bao gồm cảm giác buồn bã, mất hứng thú và khó khăn trong việc tập trung.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp

Đánh giá hiệu quả can thiệp giúp xác định các phương pháp điều trị nào là hiệu quả nhất cho trẻ em mắc rối loạn trầm cảm. Điều này không chỉ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe mà còn hỗ trợ sự phát triển tâm lý của trẻ.

II. Những Thách Thức Trong Việc Can Thiệp Rối Loạn Trầm Cảm Ở Trẻ Em

Việc can thiệp rối loạn trầm cảm ở trẻ em gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu nhận thức về triệu chứng và dấu hiệu của bệnh. Nhiều trẻ em không được chẩn đoán kịp thời, dẫn đến việc điều trị không hiệu quả. Ngoài ra, sự kỳ thị xã hội cũng là một rào cản lớn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ.

2.1. Thiếu Nhận Thức Về Rối Loạn Trầm Cảm

Nhiều bậc phụ huynh và giáo viên không nhận ra các triệu chứng của rối loạn trầm cảm ở trẻ em. Điều này dẫn đến việc trẻ không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

2.2. Kỳ Thị Xã Hội Đối Với Rối Loạn Tâm Lý

Sự kỳ thị xã hội đối với các vấn đề tâm lý khiến nhiều gia đình ngại ngùng khi tìm kiếm sự giúp đỡ cho trẻ. Điều này làm tăng thêm áp lực cho trẻ em và có thể dẫn đến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

III. Phương Pháp Can Thiệp Hiệu Quả Rối Loạn Trầm Cảm Ở Trẻ Em

Có nhiều phương pháp can thiệp hiệu quả cho trẻ em mắc rối loạn trầm cảm. Các liệu pháp tâm lý như liệu pháp hành vi nhận thức, liệu pháp gia đình và liệu pháp nhóm đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng của trẻ. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp cần dựa trên từng trường hợp cụ thể.

3.1. Liệu Pháp Hành Vi Nhận Thức

Liệu pháp hành vi nhận thức giúp trẻ nhận diện và thay đổi những suy nghĩ tiêu cực. Phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm triệu chứng trầm cảm.

3.2. Liệu Pháp Gia Đình

Liệu pháp gia đình tập trung vào việc cải thiện mối quan hệ giữa trẻ và các thành viên trong gia đình. Điều này giúp tạo ra một môi trường hỗ trợ cho trẻ trong quá trình điều trị.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Can Thiệp Rối Loạn Trầm Cảm

Nghiên cứu cho thấy rằng can thiệp sớm và đúng cách có thể cải thiện đáng kể tình trạng của trẻ em mắc rối loạn trầm cảm. Các kết quả từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỷ lệ hồi phục cao hơn ở những trẻ được can thiệp kịp thời.

4.1. Tỷ Lệ Hồi Phục Sau Can Thiệp

Theo nghiên cứu, tỷ lệ hồi phục ở trẻ em được can thiệp sớm đạt tới 70%. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phát hiện và điều trị kịp thời.

4.2. Ảnh Hưởng Tích Cực Đến Sự Phát Triển Tâm Lý

Can thiệp hiệu quả không chỉ giúp trẻ hồi phục mà còn hỗ trợ sự phát triển tâm lý và xã hội của trẻ, giúp trẻ tự tin hơn trong cuộc sống.

V. Kết Luận Về Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Rối Loạn Trầm Cảm

Việc đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm ở trẻ em là rất cần thiết. Các phương pháp can thiệp tâm lý đã chứng minh được hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe tâm lý cho trẻ. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của trẻ em.

5.1. Tương Lai Của Can Thiệp Rối Loạn Trầm Cảm

Tương lai của can thiệp rối loạn trầm cảm ở trẻ em sẽ phụ thuộc vào việc phát triển các phương pháp mới và nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Bậc Phụ Huynh Và Giáo Viên

Các bậc phụ huynh và giáo viên cần nâng cao nhận thức về rối loạn trầm cảm ở trẻ em để có thể phát hiện sớm và hỗ trợ trẻ kịp thời.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm ở trẻ em luận văn ths tâm lí học lâm sàng chuyên ngành đào tạo thí điểm

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 điểm luận một số nghiên cứu liên quan đến đề tài và thao tác hóa các khái niệm nghiên cứu làm cơ sở cho việc thực hành lâm sàng, trình bày các phương pháp lâm sàng được sử dụng trong thực hành nghiên cứu, chương 2 trình bày kết quả nghiên cứu; phần ba là những phụ lục thu thập được trong quá trình nghiên cứu. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số nghiên cứu về trầm cảm 1. Các nghiên cứu của nước ngoài Theo kết quả nghiên cứu của Uỷ ban y tế và sức khỏe quốc gia của Úc, có từ 1 - 3 % thanh thiếu niên rối loạn trầm cảm cho đến 18 tuổi.

Hơn nữa, có khoảng 15 - 40% thanh thiếu niên có dấu hiệu trầm cảm và trầm cảm nhẹ. Ở các trẻ em nữ tỉ lệ trầm cảm đặc biệt cao từ 7 - 13% (Angold & Rutter, 1992; Kaskani, 1987)[16]. Theo tác giả Brice Pith ở lứa tuổi thanh thiếu niên, trầm cảm là chứng bệnh tâm thần phổ biến nhất. Theo nhiều tác giả, trầm cảm chiếm tỉ lệ 3 – 5% dân số [22].000 người Mỹ trưởng thành, chiếm khoảng 9,5% độ tuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên, bị rối loạn trầm cảm trong một năm, trong đó tỉ lệ gặp ở phụ nữ cao gấp gần 2 lần nam giới (12% so với 6,6%).535 người chết vì tự tử tại Hoa Kỳ liên quan đến trầm cảm.

Tỉ lệ tự tử ở người trẻ gia tăng đáng kể trong vài thập kỉ qua. Trong năm 1997, tự tử là nguyên nhân thứ 3 trong số những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở lứa tuổi từ 15 đến 24, khoảng 19.000 người Mỹ trưởng thành tuổi từ 18 đến 54, chiếm 13,3% người dân trong nhóm tuổi này có một hội chứng rối loạn lo âu. Rối loạn lo âu thường xuyên xảy ra cùng với các rối loạn trầm cảm, rối loạn ăn uống hoặc lạm dụng thuốc [22]. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu ở bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy phần lớn trẻ được phát hiện chẩn đoán muộn: sau 6 tháng phát bệnh là 62,5%, sau một năm phát bệnh là 45%.

Do phát hiện quá muộn nên việc điều trị thường không hiệu quả, gây thiệt thòi cho trẻ, tốn kém cho gia đình. Các rối loạn kéo dài sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển tư duy, nhận thức và đến sinh hoạt, học tập [22]. Nghiên cứu “Kết quả chẩn đoán trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông Hà Nội” của tác giảNguyễn Bá Đạt (2003) thì trong số những học sinh trung học 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phổ thông gặp khó khăn học đường có một số học sinh rơi vào trạng thái trầm cảm - rối loạn cảm xúc[8]. Theo tác giả Hồ Ngọc Quỳnh (2009) nghiên cứu trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng và y tế công cộng tại TP Hồ Chí Minh cho thấy, tỉ lệ mắc trầm cảm ở sinh viên y tế công cộng lên tới 17,6%; ở sinh viên điều dưỡng là 16,5% và liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức bản thân [7].

Các lý thuyết tiếp cận về trầm cảm 1. Thuyết Phân tâm học về trầm cảm René Spitz đưa ra thuật ngữ "trầm cảm thiếu chỗ dựa" để chỉ một phản ứng đặc biệt của trẻ em do thiếu sự chăm sóc của mẹ. René Spitz mô tả hành vi của trẻ em tuổi 6-18 tháng khi bị tách mẹ đột ngột bao gồm: bé kêu khóc, thu mình, thờ ơ với chung quanh, thoái lui về phát triển và có nhiều triệu chứng về thân thể như rối loạn giấc ngủ, chán ân, sụt cân, giảm vận động. Các triệu chứng trên có thể hồi phục hay không hồi phục.

Theo Sandler và Joffe, đáp ứng trầm cảm là phản ứng cảm xúc cơ bản phản ánh đáp ứng với một trạng thái đau.Nhưng nó không hoà lẫn với trạng thái đau và cũng không phải là đáp ứng duy nhất có thể xảy ra. Phản ứng trầm cảm là phản ứng cuối cùng để tránh sự bất lực trước trạng thái đau thể chất và tâm lý.Freud cho rằng rối loạn trầm cảm là một quá trình tương tự như đau buồn.Khi quá đau buồn, cá nhân có thể thoái lui về giai đoạn môi miệng của sự phát triển, như là một cơ chế phòng vệ chống lại những nỗi buồn quá lớn.Điều này dẫn cá nhân sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào người mà họ yêu quý; hậu quả khiến họ đồng nhất mình với những người đó và từ đó họ sẽ giành lại được mối quan hệ đã mất. Tiếp theo, qua một quá trình gọi là tiếp nhận, cá nhân hướng những cảm nhận về người họ yêu quý đến chính bản thân. Những cảm xúc này có thể là sự giận dữ, kết quả của các xung đột không giải quyết được.Phản ứng như thế có thể trở thành bệnh lí nếu cá nhân tiếp tục trong một thời gian dài, dẫn đến tự căm ghét bản thân và trầm cảm.

Ông cũng cho rằng trầm cảm “bình thường” là kết quả của những mất mát có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính tượng trưng hay tưởng tượng. Sự việc nghiêm trọng khi nó lấy mất của cá nhân tình yêu hoặc sự đánh giá của những người quan trọng theo một cách nào đấy và cá nhân lại hướng những cảm xúc đó về mình và tiếp nhận chúng. Những người không thể thỏa mãn quá nhiều, mà cũng không thể thỏa mãn ít được là hững người dễ bị trầm cảm nhất. Và họ sẽ còn phụ thuộc vào tình yêu thương và sự chấp nhận của người khác, họ còn rất nhạy cảm với những sự kiện gây ra lo lắng hoặc những trải nghiệm mất mát [13].

Thuyết nhận thức về trầm cảm Aaron Beck đã có nghiên cứu về trầm cảm, ông đã tiến hành nhiều quan sát lâm sàng đối với bệnh nhân trầm cảm và quan sát thấy những định kiến tiêu cực trong quá trình nhận thức của họ. Beck đã phát triển ra lý thuyết về rối loạn cảm xúc và mô hình nhận thức của trầm cảm từ việc liên tục quan sát lâm sàng và kiểm nghiệm thực tế.Theo Beck, trầm cảm được đặc trưng bởi một tam giác nhận thức. Cá nhân trầm cảm có cái nhìn tiêu cực về cái tôi, về thế giới và về tương lai, họ nhìn nhận bản thân là không có giá trị, không tương ứng. Quan điểm tiêu cực nổi bật trong lòng tin của họ rằng có một lực lượng lớn các nhu cầu đang tồn tại và có những rào cản lớn ngăn cản con đường đi đến mục tiêu.

Những người bị trầm cảm thường có cái nhìn bi quan, chán nản, phản ánh niềm tin rằng các vấn đề hiện tại sẽ không cải thiện được, và sự bi quan, tuyệt vọng này có thể dẫn đến ý tưởng tự sát. Các triệu chứng động cơ, hành vi, cảm xúc và cả thân thể của rối loạn trầm cảm cũng đồng thời được hoạt hóa dưới chế độ của trầm cảm. Một số ví dụ của Beck về các lỗi trong nhận thức là nguyên nhân trầm cảm [13, tr.248-251]: Suy nghĩ tuyệt Kiểu suy nghĩ “tất cả hoặc là không ai cả”: “Nếu tôi không đối thành công trong công việc này, tôi là một kẻ hoàn toàn thất bại.Hoặc là tôi trở thành người thầy giáo giỏi nhất, nếu không tôichẳng là cái gì hết”. Khái quát hóa Xây dựng kết luận chung tiêu cực về bản chất của một sự thái quá kiện ngẫu nhiên đơn kẻ: “ chính thế đấy- tôi luôn thất bại ở 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm này.

Tôi không thể làm được việc đó”. Cá nhân hóa Giải thích các sự kiện như là tội lỗi hoặc sự chống đối của cá nhân: “Tại sao họ luôn nhắm và tôi? Mọi chuyện luôn có vẻ nhưthế, ngay cả khi tôi chẳng có tội gì” Kết luận tùy tiện Tự đưa ra một kết luận trong khi không có chứng cứ đầy đủ chonó: “Họ không thích tôi. Tôi có thể nói điều đó ngay từ lúc màchúng tôi mới gặp nhau”. Trừu tượng hóa Tập trung vào một chi tiết không nổi trội, tách nó ra khỏi bối có chọn lọc cảnh: “Tôi nghĩ rằng bài diễn thuyết của tôi rất hay.

Nhưng anhsinh viên đó lại bỏ đi từ rất sớm, có thể anh ta không thích nó. Có lẽ những người khác cũng thế nhưng họ đã không thể hiện điều đó ra mà thôi” 1. Thuyết hành vi về trầm cảm Các lí thuyết hành vi về trầm cảm tập trung chủ yếu vào các quá trình điều kiện hóa quan sát được. Lewinsohn và cộng sự (1979), đã chỉ ra rằng trầm cảm là kết quả của tỉ lệ thấp các củng cố xã hội tích cực, dẫn đến khí sắc chán nản và thu hẹp những hành vi mang xu hướng được xã hội tán thưởng.

Cá nhân tự tách mình ra khỏi các liên hệ xã hội, một hành động mà trên thực tế, có thể làm tăng tạm thời các liên hệ xã hội bởi họ có thể có được sự cảm tình chú ý nhờ hành vi của mình. Điều này có thể tạo ra củng cố khác, được biết đến như là lợi ích thứ cấp, mà trong đó cá nhân được tán hưởng nhờ những hành vi có trầm cảm của mình. Tuy nhiên, giai đoạn này lại thường đi cùng với sự thu hẹp về chú ý (tần suất tán thưởng có giá trị từ phía môi trường giảm đi) và khí sắc[13]. Sự tuyệt vọng tập nhiễm Theo lí thuyết về sự tuyệt vọng tập nhiễm của Seligman, trầm cảm bắt nguồn từ việc người ta được học rằng môi trường sinh lí và xã hội nằm ngoài khả 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng kiểm soát của cá nhân.Trong những thực nghiệm trên động vật, các con vật được đặt ở trong một khu vực mà chúng có thể chạy trốn.

Sau khi trải qua một lần sốc điện nhẹ, các con vật sẽ nhanh chóng học được cách nhảy qua hàng rào để tránh bị sốc. Tuy nhiên, khi người ta ngăn chúng làm điều đó bằng cách nhốt chúng trong một cái cũi, cuối cùng thì chúng không cố tránh sốc điện nữa, ngay cả khi cơ hội trốn thoát luôn rộng mở đối với chúng. Chúng đã học được rằng, chúng không thể trốn tránh được sốc điện, và thể hiện nỗi tuyệt vọng của mình bằng sự trì trệ,không cố gắng thay đổi hoàn cảnh. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng những quy trình khác để tìm ra sự tuyệt vọng do học tập/ tập nhiễm ở cả người và động vật.

Những người trải qua các thực nghiệm này đều biểu hiện những “triệu chứng” tương tự như các cá nhân bị trầm cảm bệnh lí, bao gồm việc thiếu động cơ hoạt động, bi quan và quá trình tiếp thu bị phá vỡ. Rối loạn trầm cảm và rối loạn trầm cảm ở trẻ em 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ