Đặt vấn đề Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao. Cây lạc được gieo trồng phổ biến ở nhiều khu vực, từ châu Mỹ, châu Phi đến châu Á, với diện tích canh tác hàng năm trên thế giới lên tới gần 22 triệu ha (Đinh Tiến Dũng, 2010). Hạt lạc là một trong những nguồn thực phẩm chứa nhiều chất béo và protein cần thiết cho khẩu phần ăn của con người. Các phụ phẩm của lạc (khô dầu, thân, lá) dùng làm thức ăn cho gia súc hay làm phân bón cho cây trồng đều tốt và rẻ tiền.Hơn nữa, trồng lạc còn có tác dụng cải tạo đất và giúp phát triển nền kinh tế nông nghiệp của nước ta hiện nay (Phạm Thị Mai & cs.
Ở Việt Nam, cây lạc đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu cây nông nghiệp, đặc biệt ở những nơi khí hậu thường xuyên biến động và điều kiện canh tác còn gặp nhiều khó khăn. Trong những năm qua, nhờ tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã góp phần đưa năng suất lạc của nước ta tăng lên đáng kể (Nguyễn Văn Thắng & cs. Trên thế giới, cây lạc chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế không chỉ về diện tích gieo trồng lớn mà còn vì lạc được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp. Nhu cầu sử dụng lạc ngày càng tăng đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển lạc với quy mô ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, năng suất lạc lạc bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác và sự phá hại của sâu bệnh. Bên cạnh đó, năng suất cây trồng cũng ảnh hưởng rất lớn bởi sự xuất hiện của một số bệnh hại như bệnh gỉ sắt, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm trên lá lạc…Trong đó, bệnh HRMT do nấm S. rolfsii là một trong những bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến việc trồng lạc. Cụ thể là tỉ lệ nhiễm bệnh có thể lên đến 80 %, thời kỳ nhiễm bệnh của cây lạc cũng như điều kiện thời tiết khí hậu khi nhiễm bệnh.
Tại Hoa Kỳ, hàng năm nấm S. rolfsii gây thiệt hại khoảng 5-10% năng suất lạc (Mehan & cs. Hiện nay, để hạn chế bệnh héo rũ gốc mốc trắng lạc, người ta thường sử dụng thuốc hóa học. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc hóa học trong thời gian dài có thể gây ô nhiễm môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người.
Do đó, biện pháp 1 sinh học đang được ưu tiên sử dụng để phòng trừ bệnh hại cây trồng nói chung. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Đánh giá hiệu quả đối kháng của chủng vi khuẩn Bacillus sp.H14 với nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối lạc trong điều kiện in vitro” được thực hiện. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá khả năng đối kháng của chủng vi khuẩn Bacillus sp. rolfsii gây bệnh thối lạc.
Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của vi khuẩn và dịch nuôi cấy vi khuẩn đến sự phát triển của hệ sợi nấm S. rolfsii - Đánh giá hiệu quả ức chế của Bacillus sp. H14 đến khả năng gây bệnh HRMT của nấm S. rolfsii trong điều kiện in vitro.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây lạc 2. Giới thiệu chung Lạc (Arachis hypogaea L.) thuộc họ Leguminiseae, là một cây có nguồn gốc từ Nam Mỹ còn có tên gọi khác là đậu phộng. Cây lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao.
Loài cây này được khai hoang đầu tiên bởi cư dân vùng sông Paraguay và Parama ở vùng Chaco của Paraguay và Bolivia. Hình ảnh cây lạc (Nguồn: https://namlimxanh.vn/hat-lac-hinh-anh-tac-dung-cach-dung- cay-lac-tot-nhat-vien-dinh-duong.html) Ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, cây lạc được gieo trồng phổ biến ở hơn 100 quốc gia với diện tích trên 25 triệu ha. Tại Việt Nam, lạc được trồng nhiều ở đồng bằng Bắc Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ. Hiện nay, diện tích trồng lạc ở Việt Nam khoảng 250.
Ngoài mục đích kinh tế, lạc còn là cây trồng cải tạo đất rất tốt, do vi khuẩn nốt sần ở rễ cộng sinh với lạc có khả năng cố định đạm từ nguồn N2 trong không khí, làm tăng hàm lượng đạm trong đất, tăng độ phì nhiêu cho đất. Lạc thích hợp với đất cát pha, đất thịt nhẹ và các loại đất khác có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước 3 tốt. Cây lạc còn là cây phân xanh, có thể sử dụng trực tiếp toàn bộ rễ, thân, lá của cây lạc làm phân bón đất. Ngoài ra, lạc còn có nhiều ứng dụng trong đời sống như sản xuất dầu thực vật, thực phẩm….
Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam Tình hình sản xuất lạc trên thế giới Trên thế giới, trong số các loại cây có dầu ngắn ngày thì lạc được xếp thứ 2 sau đậu tương về diện tích và sản lượng, xếp thứ 13 trong các loại cây thực phẩm quan trọng, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật và xếp thứ 3 về nguồn protein quan trọng cung cấp cho người. Hạt lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao cho nhiều nước. Giá trị của lạc hiện chiếm gần một phần tư thu nhập và 80% giá trị xuất khẩu lạc ở Senegal, bên cạnh đó thì giá trị xuất khẩu ở Nigeria cũng chiếm khoảng 60%. Theo FAO năm 2020, một số nước có sản lượng lạc xuất khẩu lớn như Trung Quốc 259.569 tấn, Hoa Kỳ 330.396 tấn và Việt Nam 40.
Thị trường xuất khẩu dầu lạc đạt 2,68 triệu tấn, trong đó 3 nước xuất khẩu lớn nhất là Nigeria với 321.000 tấn, Senegal với 142.000 tấn và Sudan đạt 138. Sản xuất lạc trên thế giới chủ yếu để khai thác dầu thực vật, đặc biệt là ở những nước phát triển. Theo ghi nhận của FAOSTAT (2020), nhờ áp dụng tiến bộ khoa học, biện pháp kỹ thuật canh tác trong sản xuất lạc, đã nâng cao năng suất cũng như sản lượng hằng năm trên thế giới được thể hiện qua bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên thế giới từ năm 2009-2018 Diện tích Sản lượng Năng suất Năm (triệu ha) (triệu tấn) (tạ/ha) 2009 23,95 36,46 15,2 2010 26,14 43,48 16,6 2011 25,10 40,87 16,3 2012 25,56 42,01 16,4 2013 27,25 46,42 17,0 2014 27,31 45,59 16,7 2015 26,41 44,22 16,7 2016 27,24 44,54 16,3 2017 28,21 47,44 16,8 2018 28,51 45,95 16,1 (Nguồn: FAOSTAT, 2020) Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam Ở Việt Nam, cây lạc được trồng phổ biến trong nước từ Bắc đến Nam với 6 vùng sản xuất lạc chính là vùng đồng bằng song Hồng, vùng Đông Bắc, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, tổng cộng có 53 địa phương trồng lạc, trong đó những tỉnh có diện tích trồng lớn nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa. Diện tích trồng lạc ở Việt Nam chiếm khoảng 0,7 – 1,0% và chiếm 1,0 – 1,4% sản lượng lạc của thế giới.
Nhìn chung, năng suất lạc ở Việt Nam đạt khoảng 4 – 5 tấn/ha cao hơn hẳn so với năng suất lạc trung bình của thế giới. Điều đó đã chứng tỏ các kĩ thuật tiên tiến đã áp dụng rộng rãi trong sản xuất góp phần đáng kể trong việc tăng năng suất và sản lượng lạc của nước ta (Ngô Thế Dân, 2000). 5 Trong 10 năm từ 2010 – 2020, diện tích trồng lạc trên cả nước giảm từ 213. Tuy vậy, năng suất không hề giảm mà tăng vượt từ 2,10 tấn/ha lên 2,50 tấn/ha, tăng 0,4 tấn/ha được thể hiện ở bảng 2.2 Tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 đến 2020 Diện tích trồng Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tấn/ha) (tấn) 2010 231.
Vai trò của lạc Đối với kinh tế Lạc là cây có khả năng cải tạo đất, nó có thể cung cấp một lượng đạm khá cao cho cây nên lạc là cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao. Châu Á và Châu Mỹ là hai châu lục có khối lượng xuất khẩu lạc lớn nhất thế giới (chiếm 78,56% khối lượng lạc xuất khẩu trên thế giới). Việt Nam là nước đứng thứ 5 trong số các nước xuất khẩu lạc chính ở Châu Á. Mặc dù thị trường lạc những năm gần đây có nhiều biến động, nhưng nhu cầu sử dụng và giá trị kinh tế của lạc vẫn không thuyên giảm.
Theo số liệu của 6 FAOSTAT (2022), năm 2018 tổng giá trị sản xuất lạc tại Việt Nam đạt 497,633 nghìn USD, chiếm 1.13% so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước (44.831 nghìn USD) (FAOSTAT, 2022) Hàng năm, Việt Nam vẫn duy trì xuất khẩu hàng ngàn tấn lạc nhân qua các nước như Đức, Pháp, Ý. Năm 2020 Việt Nam xuất khẩu 39,982 tấn lạc thu về 56,810 nghìn USD. Bên cạnh đó là xuất khẩu các sản phẩm từ lạc như dầu lạc 103 tấn với giá trị 513 nghìn USD. Do đó, lạc vẫn là một mặt hàng nông sản khá tiềm năng, đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước và trên thế giới (FAOSTAT, 2022).
Đối với nông nghiệp Cây lạc được sử dụng để luân canh với cây trồng khác giúp làm thay đổi pH đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải thiện thành phần cơ giới, tăng lượng đạm dễ tiêu trong đất. Phân lạc (cây lạc ủ thành phân) được đánh giá là loại phân tốt cho sự phát triển của cây trồng, thậm chí là hơn hẳn so với phần chuồng. Khi khảo sát vùng đất bạc màu Hà Bắc, Nguyễn Văn Mạnh (1997) nhận thấy rằng: Nếu thay 10 tấn phân chuồng bằng 10 tấn phân lạc để bón cho lúa thì năng suất lúa tăng 0. Nếu bón 10 tấn phân lạc cộng 1 tấn phân lân thì hiệu quả tăng rõ rệt, năng suất tăng 0.
Theo nghiên cứu của Ưng Định và Đặng Phú (1999) với 1 ha thân lạc đủ để bón cho 2 - 3 ha lúa và năng suất lúatăng lên đáng kể. Rễ cây lạc có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần giúp cố định nitơ trong không khí tạo thành đạm cung cấp cho cây và cho đất. Nốt sần xuất hiện từ khi cây có 4 - 5 lá thật sau 15 - 30 ngày gieo hạt. Lượng nốt sần tăng dần trong quá trình sinh trưởng của lạc và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả và hạt.
Kích thước, vị trí, màu sắc dịch nốt sần có liên quan tới khả năng cố định nitơ. Nốt sần ở rễ chính và gần rễ chính có kích thước lớn, dịch hồng đỏ là những nốt sần có hoạt động cố định nitơ mạnh. Đối với đời sống của con người 7 Ngoài những vai trò thiết thực của cây lạc đối với nông nghiệp cũng như trong kinh tế thì cây lạc cũng được coi là vị thuốc phổ biến được sử dụng lâu đời trong dân gian.