MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ô nhiễm môi trường hiện nay đã trở thành vấn đề toàn cầu, không phải của riêng quốc gia hay vùng lãnh thổ nào. Thực tiễn đã chứng minh, không quốc gia nào có thể phát triển hùng mạnh và bền vững nếu không lấy bảo vệ môi trường làm nền tảng cho phát triển kinh tế. Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế - xã hội, sự tăng trưởng kinh tế, sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật là tiền đề cho phát triển sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp trong nước.
Thực tế cho thấy, ngành công nghiệp Quốc phòng cũng đã và đang đóng góp vai trò quan trọng cho nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc đồng thời phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Trong giai đoạn 10 năm (1998 – 2008) ngành công nghiệp Quốc phòng đã có nhiều đổi mới về công nghệ lao động, sản xuất. Tuy nhiên, các yếu tố độc hại trong môi trường lao động vẫn còn tiềm ẩn, có nguy cơ gia tăng và gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người. Theo báo cáo của Bộ Tài Nguyên & Môi trường năm 2009, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp đã làm tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh làm việc trong các khu công nghiệp và cộng đồng dân cư gần đó; đáng báo động là tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, gây ra những tổn thất kinh tế không hề nhỏ [3].
Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường lao động nói riêng là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Các hoạt động nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, bảo quản vũ khí, trang bị kỹ thuật,… phục vụ cho mục đích Quốc phòng luôn gắn liền với yêu cầu nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe bộ đội. Trong đó, nội dung thiết yếu cần tập trung giải quyết là giảm thiểu những tác hại phát sinh trong quá trình sản xuất đối với người lao động trong các nhà máy, xí nghiệp Quốc phòng. Từ thực tế đó, được sự nhất trí của Nhà trường, ban lãnh đạo Nhà máy Z131, dưới sự hướng dẫn của PGS.
TS Nguyễn Thế Hùng, tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý môi trường tại một số Xí nghiệp của Nhà máy sản xuất Quốc phòng Z131”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2. Mục tiêu tổng quát Đề tài tiến hành khảo sát hiện trạng và tình hình quản lý môi trường tại một số xí nghiệp của Nhà máy Z131, từ đó đề xuất biện pháp quản lý hiệu quả chất thải nguy hại ảnh hưởng đến môi trường và công tác an toàn vệ sinh công nghiệp cho đơn vị. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá công tác quản lý môi trường tại các xí nghiệp của Nhà máy Z131 và mức độ ảnh hưởng của hoạt dộng sản xuất của Nhà máy tới đời sống của cộng đồng dân cư xung quanh; - Từ đó đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý môi trường tại đây.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI - Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường, quản lý chất thải nguy hại đối với các Nhà máy sản xuất Quốc phòng nói chung và Nhà máy Z131 nói riêng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, tiến tới phát triển bền vững. - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học : + Vận dụng nâng cao kiến thức vào đời sống và thực tiễn. + Nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu và tra cứu tài liệu. + Nâng cao kiến thức và hiểu biết về công tác quản lý môi trường nói chung, về chất thải sản xuất vũ khí nói riêng để phục vụ cho học tập nghiên cứu sau này.
+ Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu quý, có độ tin cậy cao cho học tập Cao học và Đại học chuyên ngành Khoa học môi trường. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 định nghĩa như sau: * Môi trường: Là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. * Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.
* Tiêu chuẩn môi trường: Là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường. * Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. * Chất gây ô nhiễm: Là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm môi trường bị ô nhiễm. * Quản lý môi trường: Là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia.
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm: 13 Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ.
Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư. * Công cụ quản lý môi trường: Là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ.
Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt,. và công cụ kinh tế. Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường.
Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như: GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường. Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau: Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương. 14 Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào [3]. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI CÔNG NGHIỆP 1.
Định nghĩa * Chất thải: Là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường. Thiên nhiên, cỏ cây, các loài động vật thải ra môi trường từ các loại lá rụng đến xác chết của động vật. Con người cùng với hoạt động sản xuất của mình đã thải ra môi trường vô số các cặn bã và các loại chất thải khác nhau.
Sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại cùng với quá trình đô thị hoá trên phạm vi rộng khiến cho việc khai thác và sử dụng tài nguyên của con người cũng ngày một lớn hơn do vậy làm tăng lượng chất thải thải ra môi trường. Bên cạnh đó sự tiến bộ về khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều vật liệu mới như đồ nhựa, các loại vật liệu dẻo,… kéo theo hàng loạt chất thải mới, khó phân huỷ [6]. Tùy theo những mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta có thể chia chất thải ra thành nhiều loại. 15 - Theo nguồn gốc phát sinh chất thải có thể phân ra: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải có nguồn gốc khác trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ.
- Theo tính chất và mức độ nguy hại có thể phân thành chất thải nguy hại (CTNH) và chất thải không nguy hại. -Theo tính chất vật lý của chất thải có thể phân thành: chất thải rắn (CTR), chất thải lỏng (nước), chất thải khí. * Chất thải công nghiệp: Là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất các nhà máy, xí nghiệp. Đây là dạng chất thải cần được đặc biệt quan tâm trong phạm vi đề tài này.
* Quản lý chất thải: Là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.