Đặt vấn đề Đất đai là tài sản vô cùng quý giá là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia vì vậy sử dụng nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý và hiệu quả là một trong những vấn đề được cả thế giới đặc biệt quan tâm. Bởi vì đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp. Chính vì vậy đất đai tham gia với tư cách là một nhân tố tích cực trong sản xuất. Từ các nước phát triển, các nước đang phát triển và kém phát triển đều có một tình trạng chung là sử dụng nguồn tài nguyên đất vào mục đích sản xuất nông lâm nghiệp nhưng chưa mang lại hiệu quả cao.
Hiện nay tài nguyên đất trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Do dân số ngày càng tăng nhanh và nhu cầu của con người ngày càng cao về mọi mặt nên con người đã tác động quá mức vào tài nguyên thiên nhiên tạo nên sức ép đối với đất đai và các tài nguyên khác. Khí hậu của các hoạt động trên đã làm cho quỹ đất nông lâm nghiệp có nguy cơ giảm về diện tích và bị thoái hóa. Trước những thực trạng đó nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật như; Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2014, Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 29/9/1993, quy định về giao đất nông lâm nghiệp cho hộ gia đình, Nghị định số 02/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 quy định về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức cá nhân và hộ gia đình sử dụng lâu dài và mục n 2 đích phát triển lâm nghiệp… Điều đó đã góp phần ổn định phát triển kinh tế xã hội ở các vùng nông thôn, đặc biệt là khu vực nông thôn miền núi.
Thượng Quan là vùng đồi núi thấp của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn với diện tích đất tự nhiên là 16.097,58 ha cũng nằm trong tình trạng suy thoái như vậy, người dân nơi đây chủ yếu tham gia sản xuất nông lâm nghiệp là chính tuy nhiên năng xuất sản lượng cây trồng, vật nuôi còn chưa cao, trình độ canh tác của người dân còn lạc hậu. Chính vì thế việc sử dụng đất đai có hiệu quả là một vấn đề cần được quan tâm để đảm bảo tính bền vững vì môi trường sinh thái, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị. Khi người dân giảm được đói nghèo thì sẽ hạn chế được tình trạng khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên cộng với sự nhất trí của ban chu nhiệm khoa Lâm Nghiệp.
Tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá và thực hiện khóa luận: “Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp nhằm đề xuất một số giải pháp sử dụng đất tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích nghiên cứu Nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả khi sử dụng đất nông lâm nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu. Phân tích được những thận lợi và khó khăn trong quản lý và dụng sử đất nông lâm nghiệp.
Đề xuất được một số giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, thực hành có hiệu quả hơn. Thấy được những khó khăn của người dân tại địa phương đang gặp phải từ đó có hướng đưa ra các giải pháp giúp họ khắc phục.
Cung cấp tài liệu thông tin cho các đối tượng quan tâm. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp và thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam.
Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên thế giới. Tổng diện tích đất trên thế giới 14,777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13,251 triệu ha đất không phủ băng. Trong đó 12% tổng diện tích đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.
Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%, ở các nước đang phát triển 36%. Trong đó những loại đất tốt thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù xa, đất đen, đất rừng nâu chì chiếm 12.6%, những loại đất quá xấu như đất phủ tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất tài nguyên chiếm 40,5%, còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng, đất mỏng… Hiện nay tài nguyên đất trên thế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Trong đó 10% đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hóa [9]. Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp trên thế giới đang ngày càng bị suy giảm.
Trước đây rừng bao phủ ½ diện tích đất liền trên thế giới, còn ngày nay thì diện tích rừng chiếm 2/3 diện tích thế giới khoảng 4 tỷ ha. Cùng với sự gia tăng ngày càng nhanh về dân số, nhu cầu về cuộc sống hằng ngày càng cao thì mỗi năm diện tích rừng trên thế giới bị giảm đi khoảng 7,3 triệu ha rừng. Hiện nay trên thế giới còn khoảng 4 tỷ ha rừng tập trung ở các nước như: Mỹ, Canada, Brazil, Trung Quốc, Nga. Hàng năm mất đi khoảng trên 15 triệu ha, tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2%/năm.
Châu Á mỗi năm mất khoảng 5 triệu ha rừng [8]. n 5 Do kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp chưa hợp lý nên hàng năm có khoảng 1,2 tỷ tấn đất đá bị cuốn trôi ra sông, ra biển. Trước đây trên thế giới có khoảng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn khoảng 4 tỷ ha. Mỗi năm, tính trung bình diện tích đất rừng nhiệt đới bị thu hẹp là 11 triệu ha.
Bên cạnh đó thì các hoạt động trồng rừng hàng năm cũng được thực hiện chỉ bằng 1/10 diện tích rừng đã bị mất đi. Theo tài liệu của tổ chức FAO (2000) [1] thì thế giới đang sử dụng 1,47 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đất đồi núi la 973 triệu ha, chiếm gần 65%. Trong quá trình sử dụng con người đã làm hư hại khoảng 1.4 tỷ ha đất, ước lượng hàng năm toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, sa mạc hóa, nhiễm độc hoặc bị chuyển sang các loại đất khác. Theo FAO (1980) thông báo về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên toàn thế giới với loại quảng canh và du canh chiếm tới 45%.
Hậu quả tất yếu của các loại hình thức sử dụng đất là hiệu quả khai thác tiềm năng đất thấp, diện tích đất rừng bị mất ngày càng tăng, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng. Từ những năm 60 trở lại đây để giải quyết nạn thiếu lương thực, thực phẩm, con người đã bắt đầu thử nghiệm phương thức canh tác trên đất dốc. Kết quả là hình thức này lan rộng và hạn chế dần sự thiếu hụt về lương thực, thực phẩm, nổi bật là các nước Đông Nam Á. Năm 1975, Laquy Don và H,R Vvason lần đầu tiên sử dụng các mô hình nông lâm ngư nghiệp trên đất dốc.
Mô hình này được thực hiện trên vùng Baptist Mindanao Philippin, kết quả đem lại tốt đẹp chi phí thấp, cải thiện đất dốc nên được người dân hưởng ứng mạnh. Năm 1967 và 1969 FAO đã quan tâm đến phát triển NLKH và đi đến một sự thống nhất đúng đắn: “Áp dụng biện pháp NLKH là phương thức tốt nhất để sử dụng đất nhiệt đới một cách hợp lý, tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư thừa đồng thời thiết lập môi trường sinh thái”. n 6 Một trong những thành công trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất là việc các nhà khoa học của trung tâm phát triển nông thôn Baptist Mindanao Philippin tổng hợp, hoàn thiện và phát triển từ những năm 1970 đến nay đó là mô hình canh tác trên đất dốc SALT. Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, đến năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp canh tác kỹ thuật nông nghiệp bền vững trên đất dốc và được tổ chức quốc tế ghi nhận.
Theo Thái Phiên và cs (1998) [14], đó là mô hình: Mô hình SALT1 (Sloping Agriculture Land Technology) với thành phần 25% cây lâm nghiệp, 75% cây nông nghiệp. Mô hình SALT2 (Simple Agro Livestock Technology) với thành phần 20% cây lâm nghiệp, 40% cây nông nghiệp, 20% dành cho chăn nuôi, phần đất còn lại để làm nhà và chuồng trại. Mô hình SALT3 (Sustainable Agro Forest Technology) với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 40% cây nông nghiệp. Mô hình SALT4 (Small Agrofuit Likelihood Technology) với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 15% cây nông nghiệp, 25% cây ăn quả.
Nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng mô hình này vào thực tế sản xuất nông lâm nghiệp của đất nước mình và đạt được những thành quả nhất định từ các mô hình đó. Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp ở Việt Nam Nước ta có tổng diện tích đất tự nhiên vào khoảng 33,1 triệu ha xếp thứ 55 trong tổng số hơn 200 các nước trên thế giới. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 22,2%, còn diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 63% trong tổng số diện tích đất tự nhiên [2]. Hiện nay, theo báo cáo kết quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001- 2010 của Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ tài nguyên và Môi trường): năm 2010 đất nông nghiệp của cả nước có 26.000 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 10.000 ha so với năm 2000.
Riêng n 7 đất trồng lúa nước thời kỳ 2001-2010, chỉ tiêu Quốc hội duyệt cho phép giảm 407.