Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, tư liệu sản xuất không thể thay thế trong nông lâm nghiệp và là nền tảng phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tài nguyên đất đang đứng trước áp lực suy thoái lớn do xói mòn, rửa trôi, bạc màu và biến đổi khí hậu dưới tác động gia tăng dân số. Tại Việt Nam, với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, việc khai thác và quản lý bền vững đất dốc là yêu cầu cấp thiết. Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách như Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 64/1993/NĐ-CP, Nghị định số 02/1999/NĐ-CP nhằm đẩy mạnh giao đất giao rừng, tạo động lực phát triển kinh tế miền núi.

Xã Thượng Quan là xã miền núi vùng cao thuộc huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích tự nhiên 16.097,58 ha. Dù quỹ đất nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và người dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, hiệu quả kinh tế sử dụng đất tại đây nhìn chung còn thấp, tập quán canh tác lạc hậu và nguy cơ thoái hóa đất hiện hữu. Khóa luận được thực hiện nhằm phân tích thực trạng sử dụng đất, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, từ đó xây dựng các giải pháp bố trí đất đai hợp lý tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:

  1. Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu.
  2. Phân tích được những thuận lợi và khó khăn trong quản lý và sử dụng đất nông lâm nghiệp.
  3. Đề xuất được một số giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả.

Đối tượng nghiên cứu là đất nông lâm nghiệp và các hoạt động sản xuất trên đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn xã Thượng Quan (gồm 22 thôn bản). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 20/02/2015 đến ngày 25/05/2015, kết hợp chuỗi số liệu thống kê biến động đất đai giai đoạn 2010 - 2013 và định hướng quy hoạch đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa khung lý luận về canh tác bền vững trên đất dốc và các mô hình nông lâm kết hợp (NLKH) tiêu biểu trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Mô hình canh tác đất dốc SALT (Sloping Agriculture Land Technology) phát triển từ trung tâm Baptist Mindanao (Philippines): SALT 1 (25% lâm nghiệp, 75% nông nghiệp); SALT 2 (20% lâm nghiệp, 40% nông nghiệp, 20% chăn nuôi, diện tích còn lại làm chuồng trại/nhà ở); SALT 3 (60% lâm nghiệp, 40% nông nghiệp); SALT 4 (60% lâm nghiệp, 15% nông nghiệp, 25% cây ăn quả).
  • Các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp phổ biến ở Việt Nam: Hệ thống Nông - lâm - súc kết hợp; hệ thống Rừng - hoa màu - lúa nước; hệ thống NLKH và ruộng bậc thang; hệ thống Vườn hộ truyền thống (VAC); hệ thống Lâm - Ngư kết hợp.
  • Cơ sở pháp lý: Luật Đất đai năm 2003; Nghị định 64/1993/NĐ-CP về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình; Nghị định 02/1999/NĐ-CP về giao đất lâm nghiệp; Nghị định số 199/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa ngoại nghiệp và nội nghiệp:

  • Phương pháp ngoại nghiệp:
    • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo kiểm kê đất đai, bản đồ địa chính, báo cáo giao đất giao rừng qua các năm của UBND xã Thượng Quan và số liệu thống kê ngành nông nghiệp.
    • Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn sâu bằng phiếu điều tra đối với 05 cán bộ xã (mẫu biểu Phụ lục 01) và 30 hộ gia đình (mẫu biểu Phụ lục 02). Tổ chức các buổi thảo luận nhóm từ 5 - 7 người nhằm nhận diện các thuận lợi, khó khăn trong quản lý và sử dụng đất.
  • Phương pháp nội nghiệp:
    • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Phân loại, tổng hợp số liệu diện tích, cơ cấu đất đai liên thời gian (so sánh mốc năm 2010 và năm 2013).
    • Phương pháp phân tích kinh tế: Tính toán chi phí đầu tư, tổng giá trị sản phẩm và thu nhập dự kiến trên 1 ha đối với các loại cây trồng chính (Lúa, Ngô, Thuốc lá, Thông).
    • Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O) và thách thức (T) trong quản lý và sử dụng đất nông lâm nghiệp địa phương.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm báo cáo thống kê của địa chính xã Thượng Quan (2010, 2013), số liệu kiểm kê rừng toàn quốc của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013), Báo cáo Quy hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của xã Thượng Quan cùng dữ liệu điều tra nông hộ trực tiếp năm 2015.

Nội dung chính theo từng chương

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong bối cảnh thoái hóa đất và biến đổi khí hậu toàn cầu. Đặt trong bối cảnh xã Thượng Quan - một xã vùng cao có diện tích tự nhiên lớn (16.097,58 ha) nhưng nền sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, đề tài xác định rõ mục đích, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn sản xuất nhằm thúc đẩy canh tác nông lâm nghiệp bền vững tại địa phương.

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương tổng quan hệ thống hóa tài liệu về tình hình sử dụng đất trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới: Tổng diện tích đất là 14,777 tỷ ha (1,527 tỷ ha đóng băng và 13,251 tỷ ha không phủ băng); diện tích có khả năng canh tác là 3,2 tỷ ha nhưng mới khai thác hơn 1/3; diện tích rừng toàn cầu chiếm khoảng 4 tỷ ha nhưng mỗi năm suy giảm khoảng 7,3 - 15 triệu ha. Giới thiệu chi tiết cấu trúc 4 mô hình SALT ứng dụng trên đất dốc.
  • Tại Việt Nam: Tổng diện tích tự nhiên khoảng 33,1 triệu ha (đất nông nghiệp chiếm 22,2%, lâm nghiệp chiếm 63%). Đến 31/12/2013, tổng diện tích rừng toàn quốc là 13.954.444 ha (độ che phủ 39,5%), gồm 10.398.319 ha rừng tự nhiên và 3.556.125 ha rừng trồng (tăng 566.334 ha so với năm 2010). Phân tích đặc điểm của 5 hệ thống sử dụng đất truyền thống và kết hợp.
  • Điều kiện khu vực nghiên cứu: Xã Thượng Quan nằm ở phía Đông Nam huyện Ngân Sơn, gồm 22 thôn bản, tiếp giáp Cao Bằng, Na Rì, Nà Phặc, Vân Tùng, Đức Vân; có đường tỉnh lộ 252B đi qua. Địa hình nếp lồi cánh cung Ngân Sơn với 90% diện tích là đồi núi, 10% đất bằng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 20,7°C (thấp nhất 2°C), lượng mưa trung bình năm 1.248,2 mm, độ ẩm 83%, có hiện tượng mưa đá 1 - 3 lần/năm. Đất đai gồm nhóm đất Feralít vàng nhạt trên núi trung bình (FH) và Feralít trên đồi núi thấp phát triển từ đá sa thạch. Dân số toàn xã là 670 hộ với 3.029 nhân khẩu thuộc 4 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Mông); lực lượng lao động gồm 1.452 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tới 94,01%.

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu:

  • Đối tượng: Quỹ đất nông lâm nghiệp và các hoạt động sản xuất trên đất.
  • Địa điểm và thời gian: Xã Thượng Quan, thực hiện từ 20/02/2015 đến 25/05/2015.
  • Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu hiện trạng và biến động đất nông lâm nghiệp (2010 - 2013); hiện trạng công tác quản lý và giao đất; đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường; phân tích ma trận SWOT; đề xuất định hướng và giải pháp sử dụng đất đến năm 2020.
  • Phương pháp: Kế thừa tài liệu, điều tra PRA (phỏng vấn 5 cán bộ xã, 30 hộ gia đình, thảo luận nhóm 5 - 7 người), xử lý số liệu thống kê mô tả, so sánh liên thời gian và phân tích ma trận SWOT.

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Tác giả phân tích dữ liệu điều tra thực địa và hồ sơ địa chính xã Thượng Quan:

  • Hiện trạng sử dụng đất năm 2013:
STT Loại đất Mã Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
I Đất nông nghiệp NNP 14.039,50 87,21
1 Đất sản xuất nông nghiệp 662,27 4,11
1.1 Đất lúa nước DLN 225,27 1,40
1.2 Đất lúa nương LUN 250,00 1,55
1.3 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 187,00 1,16
2 Đất trồng cây lâu năm CLN 54,46 0,34
3 Đất lâm nghiệp LNP 13.321,52 82,75
3.1 Đất rừng phòng hộ RPH 9.045,02 56,19
3.2 Đất rừng sản xuất RSX 4.276,50 26,57
4 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 1,25 0,01
II Đất phi nông nghiệp PNN 976,98 6,06
Trong đó: Đất khu dân cư nông thôn DNT 52,15 0,32
III Đất chưa sử dụng DCS 1.081,95 6,72
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN 16.097,58 100,00
  • Tình hình giao đất nông lâm nghiệp năm 2013: 100% đất sản xuất nông nghiệp (716,73 ha bao gồm cả đất trồng cây lâu năm) đã giao cho 711 hộ gia đình quản lý. Đối với đất lâm nghiệp (13.321,52 ha), cá nhân và hộ gia đình quản lý 11.135,98 ha (chiếm 83,59%), trong khi UBND xã vẫn trực tiếp quản lý 2.185,54 ha (gồm 227,43 ha rừng sản xuất và 1.958,11 ha rừng phòng hộ).
  • Biến động đất đai 2010 - 2013: Đất sản xuất nông nghiệp giảm 2,1 ha; diện tích lúa nước giảm 1,1 ha (chuyển sang cây hàng năm); lúa nương giảm 15 ha (chuyển sang cây lâu năm); cây hàng năm khác tăng 1,4 ha (từ 185,6 ha lên 187,00 ha); cây lâu năm tăng 15 ha (từ 39,46 ha lên 54,46 ha). Diện tích rừng sản xuất giảm 2,83 ha chuyển sang đất rừng phòng hộ. Đất thổ cư tăng 2,1 ha và đất chuyên dùng tăng 6,7 ha (từ 8,3 ha lên 15,0 ha).
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế:
STT Loại cây trồng chính Diện tích (ha) Tỷ lệ trong đất NN (%) Tổng giá trị sản phẩm (đồng/ha/năm) Chi phí sản xuất (đồng/ha/năm) Thu nhập dự kiến (đồng/ha/năm)
1 Lúa 225,27 1,40 36.000.000 25.700.000 10.300.000
2 Ngô 235,86 1,60 24.800.000 15.000.000 9.800.000
3 Thuốc lá 55,75 0,35 100.000.000 65.000.000 35.000.000
4 Thông (chu kỳ 15 năm) 204,07 1,30 (đất LN) 120.000.000 7.500.000 - 8.000.000 112.000.000 - 112.500.000

Ghi chú số liệu 2014: Sản lượng lúa mùa 2014 đạt 956 tấn (năng suất 44 tạ/ha trên 217,27 ha); cây ngô đạt 235,86 ha (gồm 60,48 ha ngô ruộng năng suất 40 tạ/ha và 175,38 ha ngô nương năng suất 44 tạ/ha); đậu tương đạt 13,1 ha (năng suất 10 tạ/ha); thuốc lá đạt 55,75 ha; diện tích trồng rừng mới năm 2014 đạt 332,9 ha.

  • Đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường: Hoạt động nông lâm nghiệp giải quyết việc làm cho 94,01% lao động; đưa các giống mới năng suất cao vào sản xuất (lúa lai BTE1, PHB71, GS9, lúa nếp bản địa Khẩu Nua Lếch; ngô lai NK54, NK66, CP999, CP3Q, LVN10). Về môi trường, độ che phủ rừng đạt 70,1% giúp chống xói mòn và điều hòa nguồn nước; tuy vậy, việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật kéo dài làm đất bị chua hóa và thoái hóa cục bộ.
  • Phân tích SWOT:
    • Điểm mạnh (S): Quỹ đất nông lâm nghiệp lớn (14.039,50 ha); lao động dồi dào; người dân được tập huấn kỹ thuật và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    • Điểm yếu (W): Thiếu vốn sản xuất; địa hình đồi núi hiểm trở, hạ tầng giao thông cách trở; khí hậu khắc nghiệt (rét đậm 2°C, mưa đá); dân trí chưa đồng đều; thiếu liên kết thị trường hàng hóa.
    • Cơ hội (O): Tiếp cận các chương trình chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ giống, vốn vay ưu đãi; mở rộng cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị cao (thuốc lá); nhu cầu thị trường đối với sản phẩm gỗ nguyên liệu.
    • Thách thức (T): Nguy cơ suy thoái đất do hóa chất; dịch sâu bệnh hại (rầy nâu, khô vằn); biến động giá nông sản; khả năng phòng hộ của một số diện tích rừng còn yếu; diện tích rừng giao chưa đồng đều giữa các hộ.
  • Định hướng quy hoạch đến năm 2020:
    • Khai thác 194,99 ha đất chưa sử dụng (giảm từ 1.081,95 ha xuống 886,96 ha).
    • Đất sản xuất nông nghiệp tăng thêm 12,79 ha (từ 716,73 ha lên 729,52 ha), trong đó đất trồng cây hàng năm tăng từ 187,00 ha lên 200,24 ha; diện tích đất trồng lúa chuyển 0,45 ha sang trồng cây hàng năm.
    • Đất lâm nghiệp tăng 182,20 ha vào đất rừng sản xuất (từ 4.276,50 ha lên 4.458,70 ha); diện tích rừng trồng sản xuất tăng thêm 200 ha (từ 204,07 ha lên 404,07 ha). Rừng phòng hộ giữ nguyên 9.045,02 ha.

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Tác giả tổng kết các kết quả chính về thực trạng phân bổ đất đai, khẳng định hiệu quả vượt trội của cây thuốc lá trong cơ cấu cây nông nghiệp và vai trò kinh tế lâu dài của cây thông. Đưa ra các đề nghị cụ thể: UBND xã và Phòng Tài nguyên - Môi trường cần đẩy nhanh tiến độ giao nốt 2.185,54 ha đất lâm nghiệp cho nhân dân; tăng cường đầu tư hệ thống kênh mương thủy lợi và đường giao thông liên thôn; đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật thâm canh và hỗ trợ vốn sản xuất cho các hộ khó khăn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả cụ thể phản ánh thực trạng tài nguyên đất tại xã Thượng Quan:

  • Hệ thống hóa hiện trạng: Toàn xã có 16.097,58 ha diện tích tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chiếm 87,21% (14.039,50 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 6,06% (976,98 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 6,72% (1.081,95 ha).
  • Hiệu quả kinh tế của các mô hình: Cây Thuốc lá mang lại thu nhập ròng cao nhất trong nhóm cây ngắn ngày với 35 triệu đồng/ha/năm (doanh thu 100 triệu, chi phí 65 triệu), cao gấp hơn 3 lần so với Lúa (10,3 triệu đồng/ha/năm) và Ngô (9,8 triệu đồng/ha/năm). Cây Thông mang lại thu nhập dự kiến 112 - 112,5 triệu đồng/ha theo chu kỳ khai thác 15 năm với chi phí đầu tư thấp (khoảng 7,5 - 8 triệu đồng/ha).
  • Thực trạng công tác giao đất: 100% diện tích đất sản xuất nông nghiệp (716,73 ha) đã được giao quyền sử dụng cho 711 hộ dân. Trong tổng số 13.321,52 ha đất lâm nghiệp, đã giao 11.135,98 ha cho hộ gia đình và cá nhân; còn lại 2.185,54 ha do UBND xã tạm thời quản lý cần tiếp tục giao khoán.

Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất:

  • Giải pháp kỹ thuật canh tác: Ứng dụng các mô hình kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT), phát triển hệ thống nông lâm kết hợp; tăng cường sử dụng phân chuồng ủ hoai bón lót để cải tạo đất chua, giảm thiểu lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân vô cơ; nhân rộng các giống lúa thuần chất lượng cao (nếp Khẩu Nua Lếch) và các giống ngô lai năng suất cao.
  • Giải pháp kinh tế và thị trường: Quy hoạch mở rộng vùng chuyên canh cây thuốc lá; tạo liên kết chuỗi tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản; tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi.
  • Giải pháp quản lý đất đai: Thực hiện phương án quy hoạch chuyển đổi 194,99 ha đất chưa sử dụng sang sản xuất nông lâm nghiệp giai đoạn 2014 - 2020; bổ sung nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật cho bộ phận địa chính xã (hiện chỉ có 01 cán bộ phụ trách).

Đóng góp của nghiên cứu là xây dựng được bức tranh toàn diện, cập nhật về số liệu địa chính và hiệu quả kinh tế sử dụng đất tại xã Thượng Quan; đồng thời đề xuất phương án chu chuyển đất đai có tính khả thi cao, gắn liền với kế hoạch xây dựng nông thôn mới của địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:

  • Dung lượng mẫu điều tra nông hộ ở mức độ đại diện cơ bản (30 hộ gia đình và 5 cán bộ xã trên tổng số 670 hộ và 22 thôn bản) do địa bàn rộng, địa hình đồi núi hiểm trở và giao thông đi lại khó khăn.
  • Đánh giá hiệu quả môi trường đất chủ yếu dựa trên quan sát thực địa, ghi nhận hiện tượng chua hóa và xói mòn qua khảo sát định tính mà chưa có điều kiện phân tích lý hóa mẫu đất trong phòng thí nghiệm.
  • Dữ liệu kinh tế của cây lâm nghiệp (cây Thông) là số liệu tính toán dự kiến theo chu kỳ dài (15 năm), chịu tác động tiềm ẩn từ biến động giá cả thị trường gỗ trong tương lai.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng:

  • Tăng quy mô mẫu điều tra tại tất cả các thôn bản vùng sâu, vùng xa; lấy mẫu đất phân tích định lượng các chỉ tiêu độ phì, độ chua (pH), hàm lượng mùn và kim loại nặng.
  • Đi sâu nghiên cứu chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm đặc sản bản địa như lúa nếp Khẩu Nua Lếch và gỗ rừng trồng sản xuất.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Quản lý đất đai, Lâm nghiệp, Phát triển nông thôn trong việc tham khảo phương pháp điều tra PRA cấp xã và kỹ thuật phân tích hiệu quả kinh tế cây trồng trên đất dốc.
  • Cán bộ quản lý địa chính, khuyến nông cấp xã, huyện trong việc xây dựng phương án quy hoạch chu chuyển đất đai và khai thác quỹ đất chưa sử dụng tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất là phương pháp kết hợp ma trận SWOT với bảng cân bằng chu chuyển đất đai thực tế từ năm 2014 đến năm 2020.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu sử dụng đất của xã Thượng Quan năm 2013 có đặc điểm gì nổi bật? Đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối với 13.321,52 ha (82,75% tổng diện tích tự nhiên 16.097,58 ha), trong đó rừng phòng hộ là 9.045,02 ha và rừng sản xuất là 4.276,50 ha. Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 662,27 ha (chiếm 4,11%), đất phi nông nghiệp chiếm 6,06% và quỹ đất chưa sử dụng còn 1.081,95 ha (6,72%).

2. Kiểu hình sử dụng đất nào đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất trên đất nông nghiệp tại địa phương? Cây Thuốc lá mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với thu nhập dự kiến 35.000.000 đồng/ha/năm (tổng doanh thu 100.000.000 đồng/ha, chi phí 65.000.000 đồng/ha), cao hơn gấp 3 lần so với cây Lúa (10.300.000 đồng/ha/năm) và cây Ngô (9.800.000 đồng/ha/năm).

3. Thực trạng phân bổ và giao đất lâm nghiệp tại xã Thượng Quan tính đến năm 2013 như thế nào? Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 13.321,52 ha; trong đó đã giao cho cá nhân và hộ gia đình quản lý 11.135,98 ha (gồm 4.049,07 ha rừng sản xuất và 7.086,91 ha rừng phòng hộ). Diện tích do UBND xã trực tiếp quản lý là 2.185,54 ha (gồm 227,43 ha rừng sản xuất và 1.958,11 ha rừng phòng hộ).

4. Biến động cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp của xã giai đoạn 2010 - 2013 diễn ra ra sao? Đất sản xuất nông nghiệp giảm 2,1 ha; trong đó diện tích lúa nước giảm 1,1 ha (chuyển sang cây hàng năm), đất lúa nương giảm 15 ha (chuyển đổi sang trồng cây ăn quả và cây lâu năm), đất trồng cây lâu năm tăng 15 ha (từ 39,46 ha lên 54,46 ha) và đất trồng cây hàng năm khác tăng 1,4 ha (từ 185,6 ha lên 187,00 ha).

5. Phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đề xuất khai thác quỹ đất chưa sử dụng như thế nào? Phương án quy hoạch đề xuất chuyển 194,99 ha từ đất chưa sử dụng (giảm từ 1.081,95 ha xuống 886,96 ha) để bổ sung 12,79 ha cho đất sản xuất nông nghiệp (tăng lên 729,52 ha) và 182,20 ha cho đất lâm nghiệp (nâng diện tích rừng sản xuất lên 4.458,70 ha, trong đó riêng diện tích rừng trồng sản xuất tăng thêm 200 ha, đạt 404,07 ha).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Thanh Tâm đã hệ thống hóa và làm rõ hiện trạng quản lý, sử dụng 16.097,58 ha đất tự nhiên tại xã Thượng Quan giai đoạn 2010 - 2013. Nghiên cứu chỉ ra sự chênh lệch hiệu quả kinh tế rõ rệt giữa cây trồng truyền thống và cây thuốc lá, đồng thời nhận diện các khó khăn về địa hình chia cắt, trình độ thâm canh và tình trạng suy thoái hóa học của đất. Phương án quy hoạch và hệ thống giải pháp kỹ thuật - quản lý đề xuất đến năm 2020 là căn cứ khoa học và thực tiễn để địa phương khai thác quỹ đất chưa sử dụng, mở rộng diện tích rừng trồng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.