Đánh Giá Hiện Trạng Và Hiệu Quả Sử Dụng Đất Nông Lâm Nghiệp Tại Xã Thượng Quan, Huyện Ngân Sơn

Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp, đề xuất giải pháp tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nông lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

69
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.2. Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên thế giới

2.3. Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp ở Việt Nam

3. PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu về hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan

3.3.2. Hiện trạng quản lý đất nông lâm nghiệp

3.3.3. Đánh giá về hiệu quả của việc sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

3.3.4. Phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc sử dụng đất tại địa phương

3.3.5. Định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan đến năm 2020

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp

3.4.2. Phương pháp nội nghiệp

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

4.1. Hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp của xã

4.2. Hiện trạng sử dụng đất của xã Thượng Quan

4.3. Tình hình sử dụng và giao đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan

4.4. Tình hình biến động đất đai của xã Thượng Quan

4.5. Tình hình biến động đất đai trong 3 năm qua của xã

4.6. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan

4.6.1. Hiệu quả kinh tế của một số kiểu sử dụng đất chính của xã

4.6.2. Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội

4.6.3. Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường

4.7. Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức của việc sử dụng đất nông lâm nghiệp

4.8. Định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan năm 2020

4.8.1. Phương hướng phát triển của xã Thượng Quan

4.8.2. Những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện được định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp hợp lý

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan

Xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn có diện tích đất tự nhiên là 16.097,58 ha. Tình hình đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp tại đây cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo số liệu thống kê, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao. Năng suất cây trồng và vật nuôi còn thấp, do trình độ canh tác của người dân chưa được nâng cao. Việc quản lý đất đai cũng gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên. Đặc biệt, tình trạng xói mòn và ô nhiễm đất đang gia tăng, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất nông lâm nghiệp. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, nhằm đảm bảo phát triển bền vững cho xã.

1.1. Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp

Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan cho thấy sự phân bổ không đồng đều giữa các loại hình sử dụng. Đất nông nghiệp chủ yếu được sử dụng cho trồng lúa và cây ăn quả, trong khi đất lâm nghiệp chủ yếu là rừng tự nhiên. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế từ các loại hình này chưa đạt yêu cầu. Theo báo cáo, năng suất lúa chỉ đạt khoảng 53,2 tạ/ha, thấp hơn so với tiềm năng. Việc quản lý đất đai chưa hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí và suy thoái đất. Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, như áp dụng công nghệ mới và cải thiện kỹ thuật canh tác.

II. Hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục. Mặc dù diện tích đất nông lâm nghiệp lớn, nhưng hiệu quả kinh tế từ việc sử dụng đất chưa cao. Các mô hình sản xuất hiện tại chưa phát huy hết tiềm năng của đất đai. Việc áp dụng các biện pháp canh tác hiện đại còn hạn chế, dẫn đến năng suất thấp. Đặc biệt, tình trạng ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp cũng là một vấn đề nghiêm trọng. Cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bao gồm cải thiện kỹ thuật canh tác và tăng cường quản lý tài nguyên đất.

2.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế từ việc sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan chưa đạt yêu cầu. Mặc dù có nhiều loại cây trồng, nhưng năng suất và sản lượng vẫn còn thấp. Theo số liệu, hiệu quả kinh tế từ cây lúa chỉ đạt khoảng 30 triệu đồng/ha/năm, trong khi cây ăn quả có thể đạt 50 triệu đồng/ha/năm. Điều này cho thấy cần có sự chuyển đổi trong cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Việc áp dụng các mô hình sản xuất mới, như mô hình VAC (vườn, ao, chuồng), có thể giúp cải thiện tình hình này.

III. Đề xuất giải pháp sử dụng đất nông lâm nghiệp

Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan, cần có những giải pháp cụ thể. Trước hết, cần tăng cường công tác quản lý đất đai, đảm bảo sử dụng hợp lý và hiệu quả. Thứ hai, cần áp dụng các công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp, như kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) để cải thiện năng suất. Thứ ba, cần có các chương trình đào tạo cho người dân về kỹ thuật canh tác và quản lý tài nguyên. Cuối cùng, cần tăng cường bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững cho xã.

3.1. Giải pháp quản lý đất đai

Giải pháp quản lý đất đai cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Cần có sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và người dân trong việc quản lý và sử dụng đất. Việc lập kế hoạch sử dụng đất cần dựa trên thực tế và nhu cầu của người dân. Đồng thời, cần có các biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong quản lý đất đai. Chỉ có như vậy, hiệu quả sử dụng đất mới được nâng cao, góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp nhằm đề xuất một số giải pháp sử dụng đất tại xã thượng quan huyện ngân sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đất đai là tài sản vô cùng quý giá là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia vì vậy sử dụng nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý và hiệu quả là một trong những vấn đề được cả thế giới đặc biệt quan tâm. Bởi vì đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp. Chính vì vậy đất đai tham gia với tư cách là một nhân tố tích cực trong sản xuất. Từ các nước phát triển, các nước đang phát triển và kém phát triển đều có một tình trạng chung là sử dụng nguồn tài nguyên đất vào mục đích sản xuất nông lâm nghiệp nhưng chưa mang lại hiệu quả cao.

Hiện nay tài nguyên đất trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Do dân số ngày càng tăng nhanh và nhu cầu của con người ngày càng cao về mọi mặt nên con người đã tác động quá mức vào tài nguyên thiên nhiên tạo nên sức ép đối với đất đai và các tài nguyên khác. Khí hậu của các hoạt động trên đã làm cho quỹ đất nông lâm nghiệp có nguy cơ giảm về diện tích và bị thoái hóa. Trước những thực trạng đó nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật như; Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2014, Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 29/9/1993, quy định về giao đất nông lâm nghiệp cho hộ gia đình, Nghị định số 02/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 quy định về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức cá nhân và hộ gia đình sử dụng lâu dài và mục n 2 đích phát triển lâm nghiệp… Điều đó đã góp phần ổn định phát triển kinh tế xã hội ở các vùng nông thôn, đặc biệt là khu vực nông thôn miền núi.

Thượng Quan là vùng đồi núi thấp của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn với diện tích đất tự nhiên là 16.097,58 ha cũng nằm trong tình trạng suy thoái như vậy, người dân nơi đây chủ yếu tham gia sản xuất nông lâm nghiệp là chính tuy nhiên năng xuất sản lượng cây trồng, vật nuôi còn chưa cao, trình độ canh tác của người dân còn lạc hậu. Chính vì thế việc sử dụng đất đai có hiệu quả là một vấn đề cần được quan tâm để đảm bảo tính bền vững vì môi trường sinh thái, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị. Khi người dân giảm được đói nghèo thì sẽ hạn chế được tình trạng khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên cộng với sự nhất trí của ban chu nhiệm khoa Lâm Nghiệp.

Tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá và thực hiện khóa luận: “Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp nhằm đề xuất một số giải pháp sử dụng đất tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích nghiên cứu Nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả khi sử dụng đất nông lâm nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu. Phân tích được những thận lợi và khó khăn trong quản lý và dụng sử đất nông lâm nghiệp.

Đề xuất được một số giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, thực hành có hiệu quả hơn. Thấy được những khó khăn của người dân tại địa phương đang gặp phải từ đó có hướng đưa ra các giải pháp giúp họ khắc phục.

Cung cấp tài liệu thông tin cho các đối tượng quan tâm. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp và thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam.

Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên thế giới. Tổng diện tích đất trên thế giới 14,777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13,251 triệu ha đất không phủ băng. Trong đó 12% tổng diện tích đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.

Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%, ở các nước đang phát triển 36%. Trong đó những loại đất tốt thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù xa, đất đen, đất rừng nâu chì chiếm 12.6%, những loại đất quá xấu như đất phủ tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất tài nguyên chiếm 40,5%, còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng, đất mỏng… Hiện nay tài nguyên đất trên thế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Trong đó 10% đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hóa [9]. Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp trên thế giới đang ngày càng bị suy giảm.

Trước đây rừng bao phủ ½ diện tích đất liền trên thế giới, còn ngày nay thì diện tích rừng chiếm 2/3 diện tích thế giới khoảng 4 tỷ ha. Cùng với sự gia tăng ngày càng nhanh về dân số, nhu cầu về cuộc sống hằng ngày càng cao thì mỗi năm diện tích rừng trên thế giới bị giảm đi khoảng 7,3 triệu ha rừng. Hiện nay trên thế giới còn khoảng 4 tỷ ha rừng tập trung ở các nước như: Mỹ, Canada, Brazil, Trung Quốc, Nga. Hàng năm mất đi khoảng trên 15 triệu ha, tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2%/năm.

Châu Á mỗi năm mất khoảng 5 triệu ha rừng [8]. n 5 Do kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp chưa hợp lý nên hàng năm có khoảng 1,2 tỷ tấn đất đá bị cuốn trôi ra sông, ra biển. Trước đây trên thế giới có khoảng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn khoảng 4 tỷ ha. Mỗi năm, tính trung bình diện tích đất rừng nhiệt đới bị thu hẹp là 11 triệu ha.

Bên cạnh đó thì các hoạt động trồng rừng hàng năm cũng được thực hiện chỉ bằng 1/10 diện tích rừng đã bị mất đi. Theo tài liệu của tổ chức FAO (2000) [1] thì thế giới đang sử dụng 1,47 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đất đồi núi la 973 triệu ha, chiếm gần 65%. Trong quá trình sử dụng con người đã làm hư hại khoảng 1.4 tỷ ha đất, ước lượng hàng năm toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, sa mạc hóa, nhiễm độc hoặc bị chuyển sang các loại đất khác. Theo FAO (1980) thông báo về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên toàn thế giới với loại quảng canh và du canh chiếm tới 45%.

Hậu quả tất yếu của các loại hình thức sử dụng đất là hiệu quả khai thác tiềm năng đất thấp, diện tích đất rừng bị mất ngày càng tăng, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng. Từ những năm 60 trở lại đây để giải quyết nạn thiếu lương thực, thực phẩm, con người đã bắt đầu thử nghiệm phương thức canh tác trên đất dốc. Kết quả là hình thức này lan rộng và hạn chế dần sự thiếu hụt về lương thực, thực phẩm, nổi bật là các nước Đông Nam Á. Năm 1975, Laquy Don và H,R Vvason lần đầu tiên sử dụng các mô hình nông lâm ngư nghiệp trên đất dốc.

Mô hình này được thực hiện trên vùng Baptist Mindanao Philippin, kết quả đem lại tốt đẹp chi phí thấp, cải thiện đất dốc nên được người dân hưởng ứng mạnh. Năm 1967 và 1969 FAO đã quan tâm đến phát triển NLKH và đi đến một sự thống nhất đúng đắn: “Áp dụng biện pháp NLKH là phương thức tốt nhất để sử dụng đất nhiệt đới một cách hợp lý, tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư thừa đồng thời thiết lập môi trường sinh thái”. n 6 Một trong những thành công trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất là việc các nhà khoa học của trung tâm phát triển nông thôn Baptist Mindanao Philippin tổng hợp, hoàn thiện và phát triển từ những năm 1970 đến nay đó là mô hình canh tác trên đất dốc SALT. Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, đến năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp canh tác kỹ thuật nông nghiệp bền vững trên đất dốc và được tổ chức quốc tế ghi nhận.

Theo Thái Phiên và cs (1998) [14], đó là mô hình: Mô hình SALT1 (Sloping Agriculture Land Technology) với thành phần 25% cây lâm nghiệp, 75% cây nông nghiệp. Mô hình SALT2 (Simple Agro Livestock Technology) với thành phần 20% cây lâm nghiệp, 40% cây nông nghiệp, 20% dành cho chăn nuôi, phần đất còn lại để làm nhà và chuồng trại. Mô hình SALT3 (Sustainable Agro Forest Technology) với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 40% cây nông nghiệp. Mô hình SALT4 (Small Agrofuit Likelihood Technology) với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 15% cây nông nghiệp, 25% cây ăn quả.

Nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng mô hình này vào thực tế sản xuất nông lâm nghiệp của đất nước mình và đạt được những thành quả nhất định từ các mô hình đó. Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp ở Việt Nam Nước ta có tổng diện tích đất tự nhiên vào khoảng 33,1 triệu ha xếp thứ 55 trong tổng số hơn 200 các nước trên thế giới. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 22,2%, còn diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 63% trong tổng số diện tích đất tự nhiên [2]. Hiện nay, theo báo cáo kết quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001- 2010 của Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ tài nguyên và Môi trường): năm 2010 đất nông nghiệp của cả nước có 26.000 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 10.000 ha so với năm 2000.

Riêng n 7 đất trồng lúa nước thời kỳ 2001-2010, chỉ tiêu Quốc hội duyệt cho phép giảm 407.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn là một nghiên cứu chuyên sâu về tình hình quản lý và khai thác đất nông lâm nghiệp tại địa phương. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về hiện trạng sử dụng đất, đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và người dân quan tâm đến phát triển bền vững nông lâm nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn đánh giá thực trạng rừng trồng và hiệu quả một số loài cây trồng chính trên địa bàn huyện sơn dương tỉnh tuyên quang, Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình chuyển đổi từ trồng lúa hai vụ sang tôm lúa tại huyện an biên tỉnh kiên giang, và Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh trên địa bàn xã thị hoa huyện hạ lang tỉnh cao bằng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các mô hình sử dụng đất hiệu quả và bền vững.