Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, ngành mía đường giữ vai trò then chốt trong việc tạo việc làm và thu nhập cho người dân khu vực nông thôn, miền núi. Tuy nhiên, theo báo cáo của Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA), ngành sản xuất mía đường trong nước đang đối mặt với nhiều áp lực cạnh tranh gay gắt. Bình quân mỗi năm lượng đường nhập lậu vào thị trường nội địa xấp xỉ 500 nghìn tấn; lượng đường lỏng nhập khẩu tăng từ 46 nghìn tấn năm 2014 lên khoảng 140 nghìn tấn năm 2018. Tác động của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) cùng biến động thời tiết và giá cả khiến số lượng nhà máy đường tại Việt Nam giảm từ 40 nhà máy xuống còn 30 nhà máy tính đến tháng 9/2020 (trong đó 17 nhà máy hoạt động cầm chừng, 11 nhà máy phải đóng cửa), sản lượng đường toàn ngành sụt giảm xuống khoảng 700 nghìn tấn, diện tích vùng nguyên liệu thu hẹp từ 30% đến 60%.
Tại địa bàn xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng – một xã miền núi biên giới giáp với huyện Long Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), sản xuất nông nghiệp là nguồn sinh kế chủ đạo của đa số hộ dân. Từ năm 2007, sau khi thử nghiệm thành công giống mía Tân Đại Đường 22 (do Nhà máy đường Long Châu đưa vào khảo nghiệm từ năm 2006), cây mía đã được quy hoạch thành cây trồng kinh tế mũi nhọn nhằm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, hoạt động canh tác mía tại địa phương còn tồn tại nhiều khó khăn: kỹ thuật thâm canh của các nông hộ chưa đồng đều, tập quán sản xuất còn nặng tính thủ công, hệ thống thủy lợi mùa khô chưa đáp ứng đầy đủ, giá vật tư phân bón đầu vào tăng cao trong khi giá thu mua sản phẩm phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu tiểu ngạch và hợp đồng bao tiêu của nhà máy phía Trung Quốc. Thêm vào đó, làn sóng lao động trẻ di cư sang các khu công nghiệp tạo ra tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ trong thời điểm thu hoạch mía rộ.
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế sản xuất của các hộ trồng mía tại địa bàn xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh mía.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và định hướng phát triển bền vững vùng sản xuất mía trên địa bàn xã trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân tham gia sản xuất mía; các yếu tố đầu vào tham gia vào quá trình sản xuất (đất đai, lao động, tư liệu sản xuất, vốn, tiến bộ kỹ thuật); các hoạt động dịch vụ hỗ trợ (tín dụng ngân hàng, dịch vụ bốc xếp, vận chuyển, công thuê thu hoạch).
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng; trong đó điều tra chuyên sâu tại 3 xóm đại diện gồm Bản Nhảng, Phia Đán và Thôm Quỷnh.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sản xuất nông nghiệp của xã được thu thập trong giai đoạn 3 năm (2018 - 2020); số liệu sơ cấp phỏng vấn nông hộ được thu thập trong vụ sản xuất năm 2020; thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về nông hộ và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Về hộ nông dân, nghiên cứu trích dẫn luận điểm của Lê Đình Thắng (1993) coi nông hộ là tế bào kinh tế cơ sở ở nông thôn; định nghĩa của Đào Thế Tuấn (1997) về hộ nông dân gắn với các hoạt động nông - lâm - thủy sản; cùng khái niệm của Frank Ellis (1993) nhấn mạnh tính chất tự tạo sinh kế dựa trên đất đai, sử dụng lao động gia đình và tham gia vào thị trường không hoàn hảo. Về hiệu quả kinh tế, đề tài vận dụng định nghĩa của Nguyễn Văn Ngọc (Từ điển Kinh tế học) và giáo trình Thống kê nông nghiệp của Nguyễn Hữu Ngoan (2005), làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra ($H = Q / C$). Tác giả cũng dẫn luận quan điểm của C. Mác về việc tiết kiệm thời gian lao động sống và lao động vật hóa, cùng mô hình nghiên cứu của M. J. Farrell (1957) về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối.
Để lượng hóa kết quả và hiệu quả kinh tế của các nông hộ điều tra, khóa luận thiết lập hệ thống các chỉ tiêu kinh tế cơ bản:
- Chỉ tiêu kết quả sản xuất: Giá trị sản xuất ($GO = \sum Q_i \times P_i$, với $Q_i$ là sản lượng và $P_i$ là đơn giá tiêu thụ); Chi phí trung gian ($IC = \sum C_j$, bao gồm chi phí vật chất thường xuyên như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chi phí dịch vụ); Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$); Thu nhập hỗn hợp ($MI = VA - (T + A + LĐ)$, trong đó $T$ là thuế, $A$ là khấu hao/hao mòn tài sản cố định, $LĐ$ là chi phí thuê lao động ngoài).
- Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế: Hiệu quả chi phí trung gian ($GO/IC$, $VA/IC$, $MI/IC$) phản ánh một đồng chi phí trung gian tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm và thu nhập hỗn hợp; Hiệu quả lao động gia đình ($GO/LĐGĐ$, $VA/LĐGĐ$, $MI/LĐGĐ$) phản ánh giá trị tạo ra trên một ngày công lao động của hộ.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2018 - 2020 của Ủy ban nhân dân xã Thị Hoa (bộ phận địa chính - đất đai, văn phòng - thống kê), các văn bản quyết định của UBND tỉnh Cao Bằng và báo cáo chuyên ngành của Hiệp hội Mía đường Việt Nam. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu phỏng vấn bán cấu trúc thiết kế riêng cho các hộ trồng mía.
- Phương pháp chọn mẫu khảo sát: Khảo sát trực tiếp 60 hộ nông dân trồng mía trên địa bàn 3 xóm đại diện cho các điều kiện canh tác khác nhau: xóm Bản Nhảng (diện tích trồng mía nhỏ), xóm Phia Đán (diện tích trung bình) và xóm Thôm Quỷnh (diện tích lớn). Mẫu được phân tầng theo 3 nhóm quy mô canh tác: nhóm quy mô nhỏ (QMN, diện tích dưới 0,5 ha) gồm 30 hộ (chiếm 50,00%); nhóm quy mô vừa (QMV, diện tích từ 0,5 đến 1,0 ha) gồm 20 hộ (chiếm 33,33%); nhóm quy mô lớn (QML, diện tích trên 1,0 ha) gồm 10 hộ (chiếm 16,67%).
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, dãy số thời gian) và phương pháp so sánh đối chiếu giữa các năm, giữa các nhóm quy mô hộ. Đề tài kết hợp phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu, phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) và sử dụng công cụ sơ đồ Venn để lượng hóa nhận thức của người dân về mức độ tác động của các biện pháp kỹ thuật canh tác tới năng suất mía. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tái cơ cấu nông nghiệp miền núi gắn với xây dựng nông thôn mới. Phần này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại xã Thị Hoa và ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu cho chính quyền cấp cơ sở định hướng quy hoạch vùng nguyên liệu mía xuất khẩu.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong nước và quốc tế. Trên phạm vi toàn cầu, ngành mía đường tập trung tại hơn 120 quốc gia, trong đó Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc chiếm 50% sản lượng và 56% thị phần xuất khẩu thế giới. Dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cho thấy chu kỳ biến động mạnh của giá đường thế giới: giá đường đạt đỉnh 516 USD/tấn năm 2011 do kho dự trữ giảm 13 triệu tấn (giảm 30,7%), sau đó rơi xuống mức đáy 276 USD/tấn vào năm 2018 khi nguồn cung dư thừa và lượng dự trữ vượt 52 triệu tấn. Tại Việt Nam, ngành mía đường chịu ảnh hưởng lớn từ việc thực thi hiệp định ATIGA, tình trạng nhập khẩu đường lỏng và biến động giá mua nguyên liệu dao động từ 750 đến 800 nghìn đồng/tấn trong niên vụ 2018 - 2019, dẫn đến hiện tượng nhiều nhà máy đường đóng cửa hoặc hoạt động đình trệ.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung phần này quy định chi tiết quy trình tiếp cận thực địa, khung lý thuyết phân loại nhóm hộ khảo sát theo quy mô đất đai (dưới 0,5 ha; 0,5 - 1 ha; trên 1 ha), nguồn thông tin thứ cấp cần thu thập tại địa phương, các công thức toán học tính toán chỉ tiêu kinh tế ($GO, IC, VA, MI$) và cách thức ứng dụng phương pháp định tính sơ đồ Venn trong đánh giá nhận thức kỹ thuật của nông hộ.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phản ánh các phát hiện từ nguồn dữ liệu thống kê của xã và kết quả điều tra 60 nông hộ:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Thị Hoa có tổng diện tích tự nhiên 2.742,43 ha (số liệu địa chính phân bổ: đất nông nghiệp chiếm 91,09% năm 2020; đất phi nông nghiệp chiếm 7,08%; đất chưa sử dụng chiếm 2,46%). Địa hình xã có núi đá vôi chiếm khoảng 60%, xen kẽ các thung lũng hẹp và đồi đất đỏ vàng thích hợp trồng cây công nghiệp. Hệ thống giao thông có tuyến Tỉnh lộ 214 chạy qua địa bàn dẫn tới cửa khẩu Bí Hà tiếp giáp huyện Long Châu (Trung Quốc), tạo lợi thế vận chuyển nông sản xuất khẩu. Dân số toàn xã năm 2020 là 1.556 người thuộc 419 hộ, gồm hai dân tộc chính là Nùng (chiếm 67%) và Tày (chiếm 33%). Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đạt 76,23% (1.212 người), trong đó lao động nông nghiệp chiếm 73,65% (1.171 người). Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 37 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 11%, xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới ngày 31/12/2020.
- Thực trạng sản xuất mía toàn xã (2018 - 2020): Diện tích canh tác mía liên tục mở rộng, từ 180 ha năm 2018 lên 212 ha năm 2019 và đạt 232 ha năm 2020. Năng suất mía bình quân toàn xã duy trì ở mức 78,12 tấn/ha (năm 2018), đạt đỉnh 80,51 tấn/ha (năm 2019) và đạt 77,38 tấn/ha (năm 2020); tổng sản lượng mía cây thu hoạch năm 2020 đạt 17.952,1 tấn. Cơ cấu giống gồm giống Tân Đại Đường 22 chiếm ưu thế tuyệt đối với 176,32 ha (chiếm 76% diện tích), giống mới Đại Đường 25 (đưa vào khảo nghiệm từ năm 2012 với ưu điểm vươn lóng nhanh, lưu gốc tốt) và các giống mía địa phương ép mật. Giá trị sản xuất từ trồng mía tăng từ 2.904 triệu đồng (năm 2018) lên 3.932 triệu đồng (năm 2020), chiếm 37,01% tổng giá trị sản xuất toàn xã.
| Chỉ tiêu theo dõi |
Đơn vị tính |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
So sánh 2019/2018 (%) |
So sánh 2020/2019 (%) |
| Diện tích đất trồng mía |
ha |
180,00 |
212,00 |
232,00 |
117,78 |
109,43 |
| Năng suất bình quân |
tấn/ha |
78,12 |
80,51 |
77,38 |
103,05 |
96,11 |
| Tổng sản lượng thu hoạch |
tấn |
14.061,60 |
17.068,10 |
17.952,10 |
121,38 |
105,18 |
| Giá trị sản xuất cây mía |
triệu đồng |
2.904,00 |
3.318,00 |
3.932,00 |
114,22 |
118,50 |
| Tỷ lệ sản lượng tiêu thụ |
% |
72,50 |
80,45 |
88,20 |
110,97 |
109,63 |
- Đặc điểm nguồn lực của 60 hộ khảo sát: Quy mô nhân khẩu bình quân đạt 4,43 người/hộ; lao động trong độ tuổi đạt 2,52 người/hộ; số lao động nông nghiệp chính trực tiếp tham gia sản xuất là 3,09 người/hộ (nhóm QMN đạt 3,30 lao động/hộ, nhóm QMV đạt 3,24 lao động/hộ, nhóm QML đạt 2,47 lao động/hộ). Diện tích đất trồng mía bình quân đạt $8.160\text{ m}^2/\text{hộ}$ (nhóm QMN là $4.050\text{ m}^2/\text{hộ}$; nhóm QMV là $7.900\text{ m}^2/\text{hộ}$; nhóm QML là $12.530\text{ m}^2/\text{hộ}$). Mức độ cơ giới hóa tập trung ở các nông cụ thiết yếu: bình quân mỗi hộ sở hữu 2,47 con trâu bò cày kéo, 1,15 bình bơm thuốc bảo vệ thực vật, 0,53 máy bơm nước và 1,67 máy cày đất; ngoài ra các hộ trang bị xe ba bánh mua từ Trung Quốc phục vụ vận chuyển mía cây.
| Chỉ tiêu nguồn lực khảo sát |
Đơn vị tính |
Quy mô nhỏ (<0,5 ha) |
Quy mô vừa (0,5-1,0 ha) |
Quy mô lớn (>1,0 ha) |
Bình quân chung |
| Số hộ điều tra |
Hộ |
30 |
20 |
10 |
-- |
| Nhân khẩu bình quân |
Người/hộ |
4,20 |
4,70 |
4,58 |
4,43 |
| Lao động nông nghiệp chính |
LĐ/hộ |
3,30 |
3,24 |
2,47 |
3,09 |
| Diện tích đất trồng mía |
$\text{m}^2/\text{hộ}$ |
4.050 |
7.900 |
12.530 |
8.160 |
| Tổng vốn sản xuất bình quân |
Triệu đồng/hộ |
47,07 |
62,95 |
66,64 |
58,86 |
| Vốn tự có của hộ |
Triệu đồng/hộ |
32,87 |
51,20 |
62,11 |
48,72 |
| Vốn vay ngân hàng/tín dụng |
Triệu đồng/hộ |
14,20 |
11,75 |
4,53 |
10,16 |
| Tỷ lệ hộ phải vay vốn |
% |
40,15 |
31,07 |
19,58 |
30,26 |
- Tình hình tài chính và vay vốn: Tổng nguồn vốn sản xuất bình quân của hộ là 58,86 triệu đồng, trong đó vốn tự có chiếm 48,72 triệu đồng, vốn vay chiếm 10,16 triệu đồng. Hộ quy mô nhỏ có tỷ lệ vay vốn cao nhất (40,15% số hộ phải vay, mức dư nợ bình quân 14,20 triệu đồng/hộ), trong khi hộ quy mô lớn tự chủ được tài chính nhờ tích lũy qua các năm nên tỷ lệ vay chỉ đạt 19,58% (bình quân 4,53 triệu đồng/hộ). Kênh vay vốn chủ lực là Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT (Agribank) chiếm tỷ trọng 51,12% (nhờ lãi suất ưu đãi từ 0,3% đến 0,8%/tháng), Ngân hàng Chính sách xã hội chiếm 8,12%, phần còn lại là vốn vay mượn từ người thân và đại lý cung ứng vật tư.
- Năng suất theo giống mía khảo sát: Giống Đại Đường 22 đạt năng suất bình quân 57,80 tấn/ha (nhóm QMN đạt 59,80 tấn/ha; QMV đạt 57,80 tấn/ha; QML đạt 55,87 tấn/ha). Giống Đại Đường 25 đạt năng suất bình quân 60,63 tấn/ha (nhóm QMN đạt 59,10 tấn/ha; QMV đạt 60,63 tấn/ha; QML đạt 60,06 tấn/ha). Năng suất khảo sát thực tế của các hộ thấp hơn năng suất bình quân toàn xã (77,38 tấn/ha) do ảnh hưởng của chu kỳ lưu gốc vụ thứ hai, thứ ba và hạn chế về tưới tiêu cục bộ.
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm mía cây chủ yếu được bán sang Nhà máy đường Long Châu (Trung Quốc) theo hợp đồng đã ký kết. Trong hai năm 2018 và 2019, giá bán duy trì ổn định ở mức 300 Nhân dân tệ/tấn (tương đương khoảng 1,05 triệu đồng/tấn). Sang niên vụ 2020 - 2021, do chi phí phân bón tăng cao, một số hộ đã chủ động bán cho các đơn vị thu mua khác với mức giá chênh lệch cao hơn từ 10 đến 15 Nhân dân tệ/tấn.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tổng kết lại các chỉ số phát triển của cây mía tại xã Thị Hoa, khẳng định cây mía là nguồn thu nhập chính thúc đẩy xã hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới; đồng thời tổng hợp các kiến nghị gửi UBND huyện Hạ Lang và tỉnh Cao Bằng về việc nâng cấp hạ tầng giao thông nội đồng và ký kết các hiệp định thương mại bảo hộ vùng nguyên liệu biên giới.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng cụ thể về thực trạng phát triển kinh tế vùng mía nguyên liệu tại khu vực miền núi biên giới:
- Làm rõ xu hướng chuyển dịch đất đai tại xã Thị Hoa giai đoạn 2018 - 2020: tỷ trọng đất trồng mía trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm tăng nhanh từ 37,25% (180 ha năm 2018) lên 45,50% (232 ha năm 2020); tốc độ tăng giá trị sản xuất của cây mía bình quân đạt 16,34%/năm, đưa tỷ trọng mía lên mức 37,01% trong tổng cơ cấu giá trị sản xuất toàn xã.
- Lượng hóa sự khác biệt về nguồn lực và hiệu quả sản xuất giữa các nhóm quy mô canh tác của 60 hộ nông dân: nhóm hộ quy mô lớn (>1,0 ha) thể hiện năng lực tự chủ vốn vượt trội (vốn tự có đạt 62,11 triệu đồng/hộ, tỷ lệ phụ thuộc vốn vay chỉ 19,58%), mức độ tích lũy máy móc cao (sở hữu bình quân 1,26 máy cày/hộ), tuy nhiên năng suất canh tác giống Đại Đường 22 (55,87 tấn/ha) lại thấp hơn nhóm hộ quy mô nhỏ (59,80 tấn/ha) do áp lực quản lý thâm canh và tình trạng thiếu lao động gia đình chăm sóc chi tiết.
- Chứng minh tính thích nghi và năng suất vượt trội của giống mía mới Đại Đường 25 so với giống truyền thống Đại Đường 22 tại địa bàn (năng suất giống Đại Đường 25 đạt 60,63 tấn/ha, cao hơn giống Đại Đường 22 đạt 57,80 tấn/ha), mở ra triển vọng cơ cấu lại bộ giống của xã.
Dựa trên các phát hiện thực địa, tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Giải pháp về vốn: Ngân hàng NN&PTNT và Ngân hàng Chính sách xã hội cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, nới lỏng hạn mức vay vốn tín chấp cho các hộ quy mô nhỏ (dưới 0,5 ha) nhằm giảm tình trạng vay nóng bên ngoài.
- Giải pháp về giống và kỹ thuật: Đẩy mạnh chuyển đổi diện tích sang giống Đại Đường 25; hướng dẫn quy trình lưu gốc không quá 3 vụ để tránh suy giảm năng suất; thực hiện bón phân cân đối, đúng thời điểm thay vì bón phân theo thói quen.
- Giải pháp về đất đai: Tích tụ ruộng đất thông qua dồn điền đổi thửa nội bộ, vận động chuyển đổi những diện tích đất trồng ngô, hoa màu kém hiệu quả trên sườn đồi thoai thoải sang trồng mía nguyên liệu tập trung.
- Giải pháp về thủy lợi: Nạo vét hệ thống kênh mương lấy nước từ các suối Canh Thưn, Khơ Lẹp; hỗ trợ kinh phí cho các nhóm hộ đầu tư máy bơm nước tưới chống hạn vào các tháng mùa khô.
- Giải pháp bảo vệ thực vật: Phối hợp với cơ quan chuyên môn theo dõi, phòng trừ kịp thời bệnh thối đỏ ngọn và sâu đục thân vào giai đoạn mía tích lũy đường.
- Tổ chức khuyến nông: Củng cố mạng lưới khuyến nông viên cơ sở; tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật đầu bờ định kỳ theo chu kỳ sinh trưởng của cây mía.
- Giải pháp tiêu thụ sản phẩm: Phát huy vai trò Hợp tác xã bốc xếp hàng hóa tại địa phương; củng cố tính pháp lý của hợp đồng thu mua với Nhà máy đường Long Châu; nâng cấp hệ thống đường ra cửa khẩu Bí Hà để rút ngắn thời gian vận chuyển mía cây sau khi chặt, hạn chế tình trạng giảm độ đường (CCS).
Đóng góp mới của đề tài thể hiện ở việc cung cấp bức tranh chi tiết về mô hình sản xuất nông nghiệp phụ thuộc thị trường bao tiêu nước ngoài tại vùng biên viễn, chỉ rõ mối tương quan giữa sự biến động giá vật tư trong nước với áp lực cố định giá bán theo hợp đồng ngoại tệ (Nhân dân tệ).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế nhất định do điều kiện thực hiện:
- Quy mô mẫu điều tra dừng lại ở 60 hộ thuộc 3 xóm trên tổng số 419 hộ của toàn xã; phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong một đơn vị hành chính cấp xã nên mức độ đại diện cho toàn bộ vùng mía huyện Hạ Lang chưa cao.
- Phương pháp phân tích dữ liệu kinh tế hộ chủ yếu dựa trên các bảng thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ tương đối và bình quân trên phần mềm Excel; đề tài chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng (như hàm sản xuất Cobb-Douglas hay hàm hồi quy đa biến) để kiểm định mức độ đóng góp và ý nghĩa thống kê của từng biến đầu vào (diện tích, phân bón, công lao động, chi phí dịch vụ) đối với giá trị gia tăng ($VA$) hoặc thu nhập ($MI$).
- Trong phần trình bày bảng biểu khảo sát, văn bản khóa luận chưa thể hiện đầy đủ bảng hạch toán tổng chi phí trung gian ($IC$) và giá trị gia tăng ($VA$) chi tiết cho từng nhóm quy mô hộ điều tra.
Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm:
- Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát trên quy mô toàn huyện Hạ Lang (bao gồm 11 xã có diện tích canh tác mía);
- Ứng dụng mô hình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) hoặc phân tích màng bao dữ liệu (DEA) để đo lường chính xác hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả chi phí của nông hộ;
- Phân tích chuỗi giá trị và đánh giá tác động của các rào cản kỹ thuật kiểm dịch thực vật qua biên giới Việt - Trung đối với tính bền vững của hợp đồng bao tiêu nông sản.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Là tài liệu mẫu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Kinh tế trong việc tiếp cận phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), thiết kế bảng hỏi khảo sát hộ nông dân và vận dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế ($GO, IC, VA, MI$).
- Cán bộ quản lý địa phương: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Hạ Lang, Ủy ban nhân dân xã Thị Hoa trong việc đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng, lập kế hoạch bố trí nguồn vốn tín dụng chính sách và định hướng cơ cấu bộ giống mía trên địa bàn.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê thực trạng sử dụng đất đai, cơ cấu phân bổ nguồn vốn tín dụng và ma trận so sánh các đặc tính nông - công nghiệp của hai giống mía Đại Đường 22 và Đại Đường 25 tại vùng đồng đất miền núi phía Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ diện tích và đặc tính canh tác của hai giống mía chính tại xã Thị Hoa có sự khác biệt như thế nào?
Giống Tân Đại Đường 22 là giống chủ lực, chiếm 76% tổng diện tích trồng mía của xã (176,32 ha), có đặc tính chín sớm, năng suất tiềm năng từ 80 đến 120 tấn/ha, chịu hạn tốt, khả năng chống đổ trung bình và nhiễm sâu đục thân khoảng 6 - 8% vào giai đoạn mía chín. Giống Đại Đường 25 được đưa vào sản xuất từ năm 2012, có ưu điểm đẻ nhánh mạnh, vươn lóng nhanh, tái sinh và lưu gốc tốt, năng suất khảo sát thực tế đạt bình quân 60,63 tấn/ha (cao hơn giống Đại Đường 22 đạt 57,80 tấn/ha).
2. Nông dân xã Thị Hoa tiếp cận nguồn vốn vay sản xuất mía qua những kênh nào và lãi suất ra sao?
Toàn xã có 30,26% số hộ trồng mía phải vay vốn phục vụ sản xuất. Trong đó, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT (Agribank) là kênh tiếp cận lớn nhất, chiếm 51,12% tỷ trọng vốn vay của các hộ nhờ mức lãi suất thấp (dao động từ 0,3% đến 0,8%/tháng). Ngân hàng Chính sách xã hội chiếm tỷ trọng 8,12% (chủ yếu phục vụ hộ nghèo). Phần còn lại là nguồn vốn vay mượn từ người thân, bạn bè hoặc mua chịu vật tư từ các đại lý.
3. Cơ chế thu mua và giá bán mía nguyên liệu tại xã Thị Hoa diễn ra như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Mía cây của xã được tiêu thụ chủ yếu qua hợp đồng bao tiêu xuất khẩu sang Nhà máy đường huyện Long Châu (Trung Quốc). Trong các năm 2018 và 2019, toàn bộ sản lượng được bán theo hợp đồng với mức giá cố định là 300 Nhân dân tệ/tấn (tương đương 1,05 triệu đồng/tấn). Đến niên vụ 2020 - 2021, do giá phân bón tăng cao, một số hộ nông dân đã tìm kiếm các đối tác thu mua khác để bán với giá chênh lệch cao hơn từ 10 đến 15 Nhân dân tệ/tấn. Tỷ lệ tiêu thụ sản lượng mía toàn xã tăng từ 72,50% năm 2018 lên 88,20% năm 2020.
4. Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng khan hiếm lao động thu hoạch mía thời vụ tại địa phương?
Mặc dù lực lượng trong độ tuổi lao động của xã chiếm tỷ lệ cao (76,23% dân số năm 2020), diện tích đất canh tác bình quân đầu người có xu hướng giảm kết hợp với thu nhập từ công nghiệp ngoài tỉnh hấp dẫn hơn đã thúc đẩy một bộ phận lớn lao động trẻ chuyển dịch xuống làm việc tại các khu công nghiệp ở các thành phố lớn. Khi bước vào vụ thu hoạch rộ (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), xã rơi vào tình trạng thiếu lao động cục bộ, đẩy chi phí thuê nhân công lên cao hoặc thu hoạch chậm tiến độ làm sụt giảm chất lượng và độ đường của mía cây.
5. Sự phân bổ diện tích canh tác mía bình quân giữa các nhóm quy mô hộ khảo sát chênh lệch ra sao?
Diện tích đất trồng mía bình quân chung của 60 hộ khảo sát là $8.160\text{ m}^2/\text{hộ}$. Có sự phân hóa rõ nét theo 3 nhóm quy mô: nhóm hộ quy mô nhỏ (QMN) có diện tích bình quân là $4.050\text{ m}^2/\text{hộ}$ (tương ứng $964\text{ m}^2/\text{khẩu}$); nhóm hộ quy mô vừa (QMV) đạt $7.900\text{ m}^2/\text{hộ}$ (tương ứng $1.681\text{ m}^2/\text{khẩu}$); nhóm hộ quy mô lớn (QML) đạt mức cao nhất là $12.530\text{ m}^2/\text{hộ}$ (tương ứng $2.735\text{ m}^2/\text{khẩu}$).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Thị Huyền đã phản ánh toàn diện bức tranh sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây mía tại xã biên giới Thị Hoa giai đoạn 2018 - 2020, làm rõ vai trò quyết định của cây mía đối với tiến trình xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Thông qua kết quả khảo sát 60 nông hộ, nghiên cứu đã chỉ ra sự phân hóa về nguồn lực đất đai, năng lực tài chính và năng suất giữa các nhóm quy mô canh tác, đồng thời đánh giá ưu thế thích nghi của giống mía Đại Đường 25. Các giải pháp đề xuất về liên kết bao tiêu qua cửa khẩu, mở rộng tín dụng ưu đãi và hoàn thiện thủy lợi kênh mương có giá trị thực tiễn cao đối với công tác quy hoạch nông nghiệp tại địa phương.